Unlevered Beta là gì?

65

Bản Beta chưa được phát hành là gì?

Beta là một thước đo rủi ro thị trường. Phiên bản beta chưa phát hiện (hoặc beta tài sản) đo lường rủi ro thị trường của công ty mà không có tác động của nợ.

Việc ‘tung ra’ một phiên bản beta sẽ loại bỏ các tác động tài chính của đòn bẩy, do đó cô lập rủi ro chỉ do tài sản của công ty. Nói cách khác, vốn chủ sở hữu của công ty đã đóng góp bao nhiêu vào hồ sơ rủi ro của nó.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Levered beta (thường được gọi là beta chỉ hoặc beta vốn chủ sở hữu) là một thước đo rủi ro thị trường. Nợ và vốn chủ sở hữu được tính vào khi đánh giá hồ sơ rủi ro của công ty.
  • Bản beta chưa phát hiện loại bỏ cấu phần nợ để cô lập rủi ro chỉ do tài sản của công ty.
  • Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cao thường làm tăng rủi ro liên quan đến cổ phiếu của công ty.
  • Hệ số beta bằng 1 có nghĩa là cổ phiếu có rủi ro tương đương với thị trường trong khi betas lớn hơn hoặc nhỏ hơn 1 phản ánh ngưỡng rủi ro cao hơn hoặc thấp hơn tương ứng với thị trường.
1:33

Không vay nợ

Tìm hiểu bản Beta chưa được khám phá

Beta là hệ số góc của một cổ phiếu được hồi quy so với chỉ số thị trường chuẩn như Chỉ số Standard & Poor’s (S&P) 500. Một yếu tố quyết định chính của hệ số beta là đòn bẩy, đo lường mức độ nợ của một công ty đối với vốn chủ sở hữu của nó. Hệ số beta cho vay đo lường rủi ro của một công ty có nợ và vốn chủ sở hữu trong cấu trúc vốn của nó đối với sự biến động của thị trường. Loại beta khác được gọi là beta không giới hạn.

‘Tiết lộ’ bản beta sẽ loại bỏ bất kỳ tác động có lợi hoặc bất lợi nào có được bằng cách thêm nợ vào cấu trúc vốn của công ty. Việc so sánh các betas không bảo hiểm của các công ty giúp nhà đầu tư hiểu rõ về thành phần rủi ro được giả định khi mua cổ phiếu.

Bản beta chưa được phát hành (bản beta nội dung) = Beta cho vay (beta vốn chủ sở hữu) ( 1 + ( 1 thuế suất ) Nợ nần Công bằng ) text {Unlevered beta (asset beta)} = frac { text {Levered beta (vốn chủ sở hữu beta)}} { left (1 + frac { left (1- text {tax rate} right) * text {Debt}} { text {Equity}} right)}

Bản beta chưa được phát hành (bản beta nội dung) =( 1 + Vốn chủ sở hữu ( 1 thuế suất ) Nợ ) Beta cho vay (beta vốn chủ sở hữu )

Lấy một công ty đang tăng nợ, do đó nâng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu. Điều này sẽ dẫn đến tỷ lệ phần trăm thu nhập lớn hơn được sử dụng để trả khoản nợ đó, điều này sẽ làm tăng sự không chắc chắn của nhà đầu tư về dòng thu nhập trong tương lai. Do đó, cổ phiếu của công ty được coi là có rủi ro cao hơn nhưng rủi ro đó không phải do rủi ro thị trường.

Việc cô lập và loại bỏ thành phần nợ của rủi ro tổng thể dẫn đến kết quả beta không được giải phóng.

Mức nợ mà một công ty có có thể ảnh hưởng đến hoạt động của nó, làm cho nó nhạy cảm hơn với những thay đổi trong giá cổ phiếu của nó. Lưu ý rằng công ty đang được phân tích có nợ trong báo cáo tài chính của mình, nhưng phiên bản beta không công khai xử lý công ty như không có nợ bằng cách loại bỏ bất kỳ khoản nợ nào khỏi tính toán. Vì các công ty có cấu trúc vốn và mức nợ khác nhau, nhà phân tích có thể tính toán hệ số beta không mở rộng để so sánh chúng với nhau hoặc với thị trường một cách hiệu quả. Bằng cách này, chỉ tính nhạy cảm của tài sản của một công ty (vốn chủ sở hữu) đối với thị trường.

Để ‘mở rộng’ phiên bản beta, ngoài tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và thuế suất thuế doanh nghiệp, bạn phải biết thêm phiên bản beta có vay nợ cho công ty.

Rủi ro có hệ thống và Beta

Rủi ro có hệ thống là loại rủi ro do các yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của công ty gây ra. Loại rủi ro này không thể được đa dạng hóa. Ví dụ về rủi ro có hệ thống bao gồm thiên tai, bầu cử chính trị, lạm phát và chiến tranh. Beta được sử dụng để đo lường mức độ rủi ro có hệ thống hoặc sự biến động của một cổ phiếu hoặc danh mục đầu tư.

Beta là một thước đo thống kê so sánh sự biến động của giá cổ phiếu với sự biến động của thị trường rộng lớn hơn. Nếu độ biến động của cổ phiếu, được đo bằng hệ số beta, cao hơn, thì cổ phiếu đó được coi là rủi ro. Nếu độ biến động của cổ phiếu càng thấp, thì cổ phiếu đó được cho là có ít rủi ro hơn.

Một phiên bản beta tương đương với rủi ro của thị trường rộng lớn hơn. Nghĩa là, một công ty có phiên bản beta của một công ty có cùng rủi ro hệ thống với thị trường rộng lớn hơn. Hệ số beta bằng hai có nghĩa là công ty dễ biến động gấp đôi so với thị trường tổng thể, nhưng hệ số beta nhỏ hơn một có nghĩa là công ty ít biến động hơn và ít rủi ro hơn so với thị trường rộng lớn hơn.

Ví dụ về bản Beta chưa được phát hành

B U = B L ÷ [1 + ((1 – Thuế suất) x D / E)]

Ví dụ: tính toán bản beta không mở rộng cho Tesla, Inc. (kể từ tháng 11 năm 2017):

  • beta (B L ) là 0,73
  • Tỷ lệ Nợ trên Vốn chủ sở hữu (D / E) là 2,2
  • thuế suất thuế doanh nghiệp là 35%.

Tesla B U = 0,73 ÷ [1 + ((1 – 0,35) * 2,2)] = 0,30

Hệ số beta chưa thanh toán hầu như luôn bằng hoặc thấp hơn beta có vay nợ do nợ thường sẽ bằng 0 hoặc dương. (Trong những trường hợp hiếm hoi khi thành phần nợ của một công ty là âm, giả sử một công ty đang tích trữ tiền mặt, thì phiên bản beta không mở rộng có thể có khả năng cao hơn so với beta có vay.)

Nếu beta mở là dương, các nhà đầu tư sẽ đầu tư vào cổ phiếu của công ty khi giá dự kiến sẽ tăng. Hệ số beta không mở rộng âm sẽ thúc đẩy các nhà đầu tư đầu tư vào cổ phiếu khi giá dự kiến sẽ giảm.

Bản Beta chưa được công bố có thể giúp nhà đầu tư như thế nào?

Phiên bản beta chưa được công bố loại bỏ bất kỳ tác động có lợi hoặc bất lợi nào có được bằng cách thêm nợ vào cấu trúc vốn của công ty. Việc so sánh các betas không bảo hiểm của các công ty giúp nhà đầu tư hiểu rõ về thành phần rủi ro được giả định khi mua cổ phiếu. Vì các công ty có cấu trúc vốn và mức nợ khác nhau, nhà đầu tư có thể tính toán hệ số beta không mở rộng để so sánh chúng với nhau hoặc với thị trường một cách hiệu quả. Bằng cách này, chỉ tính nhạy cảm của tài sản của một công ty (vốn chủ sở hữu) đối với thị trường.

Beta là gì?

Nói một cách đơn giản, beta (ß) là thước đo rủi ro thị trường. Chính xác hơn, nó là thước đo về sự biến động — hoặc rủi ro có hệ thống — của một chứng khoán hoặc danh mục đầu tư so với toàn bộ thị trường. Theo thuật ngữ thống kê, nó là độ dốc của hệ số đối với chứng khoán (cổ phiếu) được hồi quy so với chỉ số thị trường chuẩn (S&P 500). Mỗi điểm dữ liệu này đại diện cho lợi nhuận của một cổ phiếu riêng lẻ so với lợi nhuận của thị trường nói chung. Vì vậy, beta mô tả hiệu quả hoạt động của lợi nhuận của một chứng khoán khi nó phản ứng với những biến động trên thị trường.

Levered Beta là gì?

Hệ số beta cho vay đo lường rủi ro của một công ty có nợ và vốn chủ sở hữu trong cấu trúc vốn của nó đối với sự biến động của thị trường. Một yếu tố quyết định chính của hệ số beta là đòn bẩy, đo lường mức độ nợ của một công ty đối với vốn chủ sở hữu của nó. Vì vậy, phiên bản beta có đòn bẩy của chứng khoán được giao dịch công khai đo lường mức độ nhạy cảm của xu hướng hoạt động của chứng khoán đó so với thị trường tổng thể. Một hệ số beta có đòn bẩy lớn hơn dương 1 hoặc nhỏ hơn âm 1 có nghĩa là nó có mức biến động lớn hơn thị trường. Hệ số beta có đòn bẩy giữa âm 1 và dương 1 có ít biến động hơn thị trường.

Nguồn tham khảo: investmentopedia