Project Finance là gì?

53

Tài chính Dự án là gì?

Tài chính dự án là nguồn tài trợ (tài trợ) cho cơ sở hạ tầng dài hạn, các dự án công nghiệp và dịch vụ công sử dụng cơ cấu tài chính không truy đòi hoặc hạn chế. Nợ và vốn chủ sở hữu được sử dụng để tài trợ cho dự án được hoàn trả từ dòng tiền do dự án tạo ra.

Tài trợ dự án là cơ cấu khoản vay chủ yếu dựa vào dòng tiền của dự án để hoàn trả, với tài sản, quyền và lợi ích của dự án được giữ làm tài sản thế chấp thứ cấp. Tài chính dự án đặc biệt hấp dẫn đối với khu vực tư nhân vì các công ty có thể tài trợ cho các dự án lớn ngoại bảng (OBS).

Tóm tắt ý kiến chính

  • Tài chính dự án liên quan đến việc tài trợ công cho cơ sở hạ tầng và các dự án dài hạn, sử dụng nhiều vốn khác.
  • Điều này thường sử dụng cấu trúc tài chính không truy đòi hoặc truy đòi hạn chế.
  • Con nợ có khoản vay không truy đòi không được truy đòi bất kỳ khoản thanh toán bổ sung nào ngoài việc thu giữ tài sản.
  • Nợ dự án thường được nắm giữ trong một công ty con thiểu số đủ lớn không được hợp nhất trên bảng cân đối kế toán của các cổ đông tương ứng (tức là, nó là một khoản mục ngoại bảng).

Tìm hiểu tài chính dự án

Cơ cấu tài chính dự án cho một dự án xây dựng, vận hành và chuyển giao (BOT) bao gồm nhiều yếu tố chính.

Tài chính dự án cho các dự án BOT nói chung bao gồm xe chuyên dùng (SPV). Hoạt động duy nhất của công ty là thực hiện dự án bằng cách thầu phụ hầu hết các khía cạnh thông qua các hợp đồng xây dựng và vận hành. Do không có nguồn thu nào trong giai đoạn xây dựng các dự án mới xây dựng nên dịch vụ nợ chỉ xảy ra trong giai đoạn hoạt động.

Vì lý do này, các bên phải chịu rủi ro đáng kể trong giai đoạn xây dựng. Nguồn doanh thu duy nhất trong giai đoạn này thường là theo hợp đồng bao thầu hoặc hợp đồng mua bán điện. Bởi vì có giới hạn hoặc không có quyền truy đòi các nhà tài trợ của dự án, các cổ đông của công ty thường phải chịu trách nhiệm pháp lý trong phạm vi cổ phần của họ. Dự án vẫn nằm ngoài bảng đối với các nhà tài trợ và chính phủ.

Không phải tất cả các khoản đầu tư vào cơ sở hạ tầng đều được tài trợ từ nguồn tài chính của dự án. Nhiều công ty phát hành nợ hoặc vốn cổ phần truyền thống để thực hiện các dự án như vậy.

Các dự án ngoại bảng

Nợ dự án thường được nắm giữ trong một công ty con thiểu số đủ lớn không được hợp nhất trên bảng cân đối kế toán của các cổ đông tương ứng. Điều này làm giảm tác động của dự án đối với chi phí nợ và khả năng nợ hiện có của các cổ đông. Các cổ đông được tự do sử dụng khả năng nợ của mình cho các khoản đầu tư khác.

Ở một mức độ nào đó, chính phủ có thể sử dụng tài trợ dự án để giữ cho các khoản nợ và nợ phải trả của dự án nằm ngoài bảng cân đối kế toán để chúng chiếm ít không gian tài chính hơn. Không gian tài chính là số tiền mà chính phủ có thể chi vượt quá những gì họ đã đầu tư vào các dịch vụ công như y tế, phúc lợi và giáo dục. Lý thuyết cho rằng tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ sẽ mang lại cho chính phủ nhiều tiền hơn thông qua việc thu thêm thuế từ nhiều người làm việc hơn và đóng thuế nhiều hơn, cho phép chính phủ tăng chi tiêu cho các dịch vụ công.

Tài trợ không truy đòi

Khi một công ty không trả được nợ, tài trợ truy đòi mang lại cho người cho vay đầy đủ quyền lợi đối với tài sản hoặc dòng tiền của cổ đông. Ngược lại, tài trợ dự án chỉ định công ty dự án là SPV trách nhiệm hữu hạn. Do đó, quyền truy đòi của người cho vay bị giới hạn chủ yếu hoặc toàn bộ đối với tài sản của dự án, bao gồm cả việc hoàn thành và đảm bảo hiệu suất và trái phiếu, trong trường hợp công ty dự án vỡ nợ.

Một vấn đề quan trọng trong tài trợ không truy đòi là liệu các trường hợp có thể phát sinh trong đó người cho vay phải truy đòi một số hoặc tất cả tài sản của cổ đông hay không. Một vi phạm có chủ ý từ phía các cổ đông có thể khiến người cho vay đòi lại tài sản.

Luật áp dụng có thể hạn chế phạm vi giới hạn trách nhiệm của cổ đông. Ví dụ, trách nhiệm đối với thương tích cá nhân hoặc tử vong thường không bị loại trừ. Nợ không truy đòi được đặc trưng bởi chi phí vốn cao (CapEx), thời gian vay dài và dòng doanh thu không chắc chắn. Bảo lãnh các khoản vay này đòi hỏi kỹ năng lập mô hình tài chính và kiến thức vững chắc về lĩnh vực kỹ thuật cơ bản.

Để xử lý các số dư thiếu hụt, tỷ lệ cho vay trên giá trị (LTV) thường được giới hạn ở mức 60% trong các khoản cho vay không truy đòi. Người cho vay áp đặt các tiêu chuẩn tín dụng cao hơn đối với người đi vay để giảm thiểu khả năng vỡ nợ. Các khoản cho vay không truy đòi, do rủi ro lớn hơn, có lãi suất cao hơn các khoản cho vay có truy đòi.

Các khoản cho vay không truy đòi so với các khoản cho vay không truy đòi

Nếu hai người đang muốn mua các tài sản lớn, chẳng hạn như một ngôi nhà, và một người nhận khoản vay có truy đòi và người kia là khoản vay không truy đòi, thì các hành động mà tổ chức tài chính có thể thực hiện đối với mỗi người đi vay là khác nhau.

Trong cả hai trường hợp, những ngôi nhà có thể được dùng làm tài sản thế chấp, nghĩa là chúng có thể bị tịch thu nếu người vay không trả được nợ. Để bù đắp chi phí khi người đi vay vỡ nợ, các tổ chức tài chính có thể cố gắng bán nhà và sử dụng giá bán để trả khoản nợ liên quan. Nếu bất động sản được bán với giá thấp hơn số tiền còn nợ, tổ chức tài chính chỉ có thể truy đòi con nợ bằng khoản vay truy đòi. Con nợ có khoản vay không truy đòi không được truy đòi bất kỳ khoản thanh toán bổ sung nào ngoài việc thu giữ tài sản.

Nguồn tham khảo: investmentopedia