Procyclic là gì?

17

Procyclic là gì?

Procyclic mô tả trạng thái mà hành vi và hành động của một sản phẩm hoặc dịch vụ có thể đo lường được di chuyển song song với điều kiện chu kỳ của nền kinh tế.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Procyclic đề cập đến điều kiện có mối tương quan thuận giữa giá trị của hàng hóa, dịch vụ hoặc một chỉ số kinh tế và trạng thái tổng thể của nền kinh tế.
  • Một số ví dụ về các chỉ số kinh tế tuần hoàn là tổng sản phẩm quốc nội (GDP), lao động và chi phí cận biên.
  • Các chính sách và hành vi tài khóa thường rơi vào mô hình tuần hoàn trong các giai đoạn bùng nổ và phá sản.

Hiểu về Procyclic

Các chỉ số kinh tế có thể có một trong ba mối quan hệ khác nhau đối với nền kinh tế: Phản chu kỳ (chỉ báo và nền kinh tế di chuyển theo hướng ngược nhau), xoay chiều (chỉ báo không liên quan đến tình trạng của nền kinh tế) hoặc theo chu kỳ.

Procyclic đề cập đến điều kiện có mối tương quan thuận giữa giá trị của hàng hóa, dịch vụ hoặc một chỉ số kinh tế và trạng thái tổng thể của nền kinh tế. Nói cách khác, giá trị của hàng hóa, dịch vụ hoặc chỉ số có xu hướng di chuyển cùng chiều với nền kinh tế, tăng khi nền kinh tế tăng trưởng và giảm khi nền kinh tế suy thoái.

Một số ví dụ về các chỉ số kinh tế tuần hoàn là tổng sản phẩm quốc nội (GDP), lao động và chi phí cận biên. Hầu hết các mặt hàng tiêu dùng cũng được coi là chu kỳ vì người tiêu dùng có xu hướng mua nhiều hàng hóa tùy ý hơn khi nền kinh tế đang trong tình trạng tốt.

Các chính sách và hành vi tài khóa thường rơi vào mô hình tuần hoàn trong các giai đoạn bùng nổ và phá sản. Khi có sự thịnh vượng về kinh tế, nhiều thành viên của dân số sẽ tham gia vào các hành vi không chỉ phù hợp với sự tăng trưởng đó mà còn giúp kéo dài thời kỳ.

Ví dụ Procyclic

Trước cuộc khủng hoảng tài chính và nhà ở vào cuối những năm 2000, có một kỳ vọng chung về lợi nhuận tài chính liên tục. Người tiêu dùng tham gia chi tiêu nhiều hơn, những người đi vay tìm kiếm thế chấp cho những ngôi nhà mà có thể đã nằm ngoài khả năng trả nợ của họ, các tổ chức tài chính khuyến khích hành vi như vậy và các chính sách của chính phủ hầu như không ngăn chặn được xu hướng đó. Miễn là thị trường đã hỗ trợ chung cho tính chất “bùng nổ” và nuôi sống nền kinh tế, điều này tiếp tục cho đến khi nợ xấu và các vấn đề khác trở nên quá lớn để có thể bỏ qua, và thị trường sụp đổ.

Môi trường kinh tế thay đổi khi phần “phá sản” của chu kỳ xảy ra. Chi tiêu của người tiêu dùng giảm, các ngân hàng và công ty cho vay kiểm soát hoạt động cho vay của họ, các vụ tịch thu nhà tràn lan trên thị trường đối với những ngôi nhà có thế chấp đã hết hạn và luật liên bang nhanh chóng được soạn thảo để ngăn chặn tất cả tái diễn. Đây là tất cả các phản hồi theo chu kỳ đối với hành động đang diễn ra.

Nền kinh tế càng di chuyển xa khỏi giai đoạn khủng hoảng đó, chi tiêu càng tăng và một số luật lệ mà các tổ chức tài chính cho là khó hiểu có thể bị đặt câu hỏi. Hành vi như vậy là theo chu kỳ bởi vì, trừ khi có một số động lực để hành động khác đi, họ mong muốn loại bỏ những gì được coi là hạn chế đối với sự lựa chọn khi thị trường có vẻ thịnh vượng.

Rắc rối với các phản ứng theo chu kỳ nghiêm ngặt đối với nền kinh tế là chúng không cho phép hành vi tư duy tương lai có thể chuẩn bị cho thị trường cho sự suy giảm cuối cùng sẽ quay trở lại. Nếu luật pháp ngăn chặn chỉ được hỗ trợ trong thời kỳ khủng hoảng, thì rất có thể, hành vi đã góp phần dẫn đến sự sụp đổ của thị trường sẽ được lặp lại.

Nguồn tham khảo: investmentopedia