Overall Liquidity Ratio là gì?

21

Tỷ lệ Thanh khoản Tổng thể là gì?

Hệ số thanh khoản tổng thể là việc đo lường khả năng thanh toán các khoản nợ phải trả của một công ty bằng tài sản của mình. Tỷ lệ thanh khoản tổng thể được tính bằng cách lấy tổng tài sản chia cho phần chênh lệch giữa tổng nợ phải trả và các khoản dự trữ có điều kiện. Tỷ lệ này được sử dụng trong ngành bảo hiểm, cũng như trong phân tích các tổ chức tài chính.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Tỷ lệ thanh khoản tổng thể được sử dụng trong ngành bảo hiểm để xác định xem công ty bảo hiểm có lành mạnh về tài chính và đủ khả năng thanh toán để trang trải các khoản nợ của mình hay không.
  • Nó cũng có thể được sử dụng trong bối cảnh của các tổ chức tài chính, chẳng hạn như ngân hàng.
  • Công thức để tính toán tỷ lệ thanh khoản tổng thể là: [Tổng tài sản / (Tổng nợ phải trả – Dự trữ có điều kiện)].
  • Tỷ lệ thanh khoản tổng thể thấp có thể cho thấy tổ chức tài chính hoặc công ty bảo hiểm đang gặp khó khăn về tài chính.
  • Hệ số thanh khoản tổng thể có thể tương phản với hệ số thanh toán hiện hành và hệ số thanh toán nhanh, cả hai đều tập trung nhiều hơn vào các nghĩa vụ thanh toán hiện hành đến hạn trong vòng 12 tháng tới.

Tỷ lệ thanh khoản chung được sử dụng như thế nào

Các cơ quan quản lý sử dụng các thước đo tài chính, như tỷ lệ thanh khoản tổng thể, để xác định xem công ty bảo hiểm, ngân hàng hoặc công ty khác có lành mạnh về tài chính và đủ dung môi để trang trải các khoản nợ của mình hay không. Các công ty tài chính và bảo hiểm sử dụng tiền mặt mà các hoạt động của họ tạo ra để thu được lợi nhuận. Ví dụ, một ngân hàng có thể sử dụng số tiền nhận được từ tiền gửi của khách hàng để cung cấp các khoản thế chấp và các khoản cho vay khác. Số dư tiền gửi của khách hàng còn lại có thể được giữ dưới dạng tiền mặt, hoặc có thể được đầu tư vào các tài sản lưu động.

Các công ty bảo hiểm nhận tiền dưới hình thức thanh toán phí bảo hiểm của các chủ hợp đồng và đến lượt họ, họ phải chịu trách nhiệm về các quyền lợi bảo hiểm mà họ đảm bảo bằng các hợp đồng bảo lãnh phát hành. Tùy thuộc vào thời hạn của hợp đồng, trách nhiệm pháp lý có thể kéo dài từ vài tháng đến vài năm. Các khoản nợ phải trả đến hạn thanh toán trong khoảng thời gian mười hai tháng tiếp theo được coi là nợ ngắn hạn.

Các cơ quan quản lý xác định số tiền mà một tổ chức tài chính hoặc công ty bảo hiểm phải luôn sẵn sàng để trang trải các khoản nợ của mình. Các cơ quan quản lý kiểm tra các tỷ lệ thanh khoản để xác định liệu công ty có tuân thủ các yêu cầu pháp lý của mình hay không. Công thức để tính toán tỷ lệ thanh khoản tổng thể là: [Tổng tài sản / (Tổng nợ phải trả – Dự trữ có điều kiện)]. Trong tính toán này, dự phòng có điều kiện đề cập đến quỹ ngày mưa do các công ty bảo hiểm nắm giữ để giúp trang trải các chi phí không lường trước được trong thời gian căng thẳng tài chính.

Tìm hiểu Tỷ lệ Thanh khoản Tổng thể

Tỷ lệ thanh khoản tổng thể thấp có thể chỉ ra rằng tổ chức tài chính hoặc công ty bảo hiểm đang gặp khó khăn về tài chính, cho dù do quản lý hoạt động kém, quản lý rủi ro kém hoặc quản lý đầu tư kém. Để tuân thủ các yêu cầu pháp lý và đảm bảo đủ tiền để trang trải các khoản nợ của mình, hầu hết các công ty cho vay và công ty bảo hiểm đều cố gắng cải thiện tỷ lệ thanh khoản tổng thể của họ.

Tuy nhiên, tỷ lệ thanh khoản tổng thể cao cũng không hẳn là tốt, đặc biệt nếu tài sản lưu động chiếm tỷ lệ cao trong tổng tài sản của công ty. Tỷ trọng tài sản lưu động lớn có nghĩa là công ty có thể không đầu tư đủ để thu được lợi nhuận cao từ tài sản, mà thay vào đó, công ty có thể chỉ tập trung vào tính thanh khoản.

Tỷ số thanh khoản tổng thể so với Tỷ số thanh toán nhanh so với Tỷ số thanh toán hiện hành

Các chỉ số thanh khoản khác bao gồm hệ số thanh toán nhanh và hệ số thanh toán hiện hành. Hệ số thanh toán nhanh so sánh tài sản của một công ty sẵn sàng sử dụng, bao gồm tiền mặt, các khoản đầu tư ngắn hạn, trái phiếu chính phủ và các khoản đầu tư không liên kết, với các nghĩa vụ hiện tại của công ty (các khoản nợ ngắn hạn đến hạn trong vòng 12 tháng tới). Hệ số thanh toán hiện hành so sánh tổng tài sản lưu động của một công ty với các nghĩa vụ hiện tại của công ty. Hệ số thanh toán nhanh thận trọng hơn hệ số thanh toán hiện hành vì nó không tính đến các tài sản lưu động như hàng tồn kho khó chuyển nhanh thành tiền mặt có thể sử dụng được.

Nguồn tham khảo: investmentopedia