Other Current Liabilities là gì?

21

Nợ ngắn hạn khác là gì?

Các khoản nợ ngắn hạn khác, trong kế toán tài chính, là các loại nợ ngắn hạn được gộp lại với nhau ở bên nợ phải trả của bảng cân đối kế toán. Thuật ngữ “nợ ngắn hạn” dùng để chỉ các khoản nợ ngắn hạn mà một công ty phải trả trong vòng 12 tháng. Do đó, các công ty thêm từ “khác” để mô tả các khoản nợ ngắn hạn không đủ trọng yếu để xác định riêng biệt trên các dòng riêng của họ trong báo cáo tài chính, vì vậy chúng được nhóm lại với nhau thành “nợ ngắn hạn khác”.

Các khoản nợ ngắn hạn khác có thể được đối chiếu với các tài sản ngắn hạn khác, được tìm thấy ở bên tài sản của bảng cân đối kế toán.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Thuật ngữ, các khoản nợ ngắn hạn khác là một mục hàng trên bảng cân đối kế toán.
  • Từ “khác” có nghĩa là các khoản nợ ngắn hạn này không đủ đáng kể để chiếm dòng riêng của chúng.
  • Chúng được nhóm lại với nhau vì mục đích đơn giản và dễ đọc.

Tìm hiểu các khoản nợ ngắn hạn khác

Trước khi bạn có thể hiểu khái niệm về các khoản nợ ngắn hạn khác, bạn phải biết thuật ngữ nợ ngắn hạn có nghĩa là gì.

Các khoản nợ ngắn hạn khác chỉ đơn giản là các khoản nợ ngắn hạn không đủ quan trọng để chiếm các dòng riêng trên bảng cân đối kế toán, do đó chúng được nhóm lại với nhau.

Nợ ngắn hạn

Phần nợ ngắn hạn của bảng cân đối kế toán liệt kê các nghĩa vụ nợ mà một công ty phải trả trong vòng 12 tháng, trái ngược với các khoản nợ dài hạn mà một công ty có thể trả dần theo thời gian. Ngoài khoản mục tài khoản phải trả phổ biến, các ví dụ về nợ ngắn hạn bao gồm những thứ như khoản vay ngắn hạn từ ngân hàng, bao gồm hạn mức tín dụng; ghi chú phải trả; cổ tức và lãi phải trả; tiền đáo hạn trái phiếu phải trả; tiền gửi tiêu dùng; dự trữ cho các loại thuế; và các phúc lợi và bảng lương tích lũy.

Nợ ngắn hạn khác

Tùy thuộc vào công ty và ngành của nó, bạn sẽ thấy nhiều loại khoản mục được liệt kê dưới các khoản nợ ngắn hạn khác. Thông thường, bạn có thể tìm thấy giải thích về các khoản nợ “khác” này ở đâu đó trong báo cáo hàng năm của công ty hoặc Mẫu 10-K; chúng cũng có thể được trình bày chi tiết trong phần chú thích của báo cáo tài chính.

Thông thường, bạn có thể phân biệt ý nghĩa của mục nợ phải trả hiện tại khác theo tên của nó. Ví dụ: nếu một doanh nghiệp liệt kê thương phiếu hoặc trái phiếu phải trả như một khoản nợ hiện tại, bạn có thể khá tin tưởng rằng số tiền được liệt kê là số tiền sẽ được trả cho các trái chủ của công ty trong ngắn hạn. Điều này cũng đúng đối với phúc lợi và bảng lương tích lũy; những khoản này là các khoản tiền công nhân viên nợ như tiền thưởng và tiền lương mà công ty chưa trả nhưng cần phải trả trong năm.

Tại sao sử dụng Nợ ngắn hạn khác?

Báo cáo tài chính có thể trở nên khá phức tạp. Nếu mọi tài khoản tài sản và nợ phải trả được liệt kê theo mục hàng, bảng cân đối kế toán có thể kéo dài đến nhiều trang, điều này sẽ ít hữu ích hơn cho người đọc. Vì vậy, một số công ty tổng hợp các tài khoản trong bảng cân đối kế toán của họ vì mục đích đơn giản; trích dẫn các khoản nợ ngắn hạn khác trên một dòng như là một tổng hợp cho các khoản nợ phải trả đến hạn trong vòng 12 tháng tới không phù hợp với bất kỳ mục hàng mô tả nào khác.

Các tài khoản yêu cầu tính minh bạch cao hơn thường trở thành một mục hàng duy nhất và các tài khoản không cần thiết cho hoạt động cốt lõi của công ty có thể được nhóm lại với nhau thành “loại khác”.

Cân nhắc đặc biệt

Mặc dù phần chú thích của bảng cân đối kế toán chứa đựng nhiều chi tiết liên quan đến các khoản nợ ngắn hạn khác, nhưng chúng tôi không nên nhầm lẫn những khoản này với các hoạt động tài chính ngoại bảng, mà phần thuyết minh cũng được bao gồm trong phần chú thích. Do hoạt động tài trợ ngoại bảng làm tăng thêm khả năng thao túng báo cáo tài chính, các mục nhập trong phần chú thích này thường bị kiểm toán viên và nhà đầu tư giám sát chặt chẽ.

Việc sử dụng các khoản nợ ngắn hạn khác làm danh mục là thông lệ chuẩn và không cần mức độ xem xét thường thấy đối với các khoản mục ngoại bảng.

Nguồn tham khảo: investmentopedia