Organic Growth là gì?

14

Tăng trưởng hữu cơ là gì?

Tăng trưởng hữu cơ là sự tăng trưởng mà một công ty đạt được bằng cách tăng sản lượng và nâng cao doanh số bán hàng trong nội bộ. Điều này không bao gồm lợi nhuận hoặc tăng trưởng do sáp nhập và mua lại mà là sự gia tăng doanh số và mở rộng thông qua các nguồn lực của chính công ty. Tăng trưởng hữu cơ trái ngược với tăng trưởng vô cơ, là tăng trưởng liên quan đến các hoạt động bên ngoài hoạt động của doanh nghiệp.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Tăng trưởng hữu cơ đề cập đến sự phát triển của doanh nghiệp thông qua các quy trình nội bộ, dựa vào các nguồn lực của chính doanh nghiệp.
  • Các chiến lược cho tăng trưởng hữu cơ bao gồm tối ưu hóa các quy trình, phân bổ lại các nguồn lực và cung cấp sản phẩm mới.
  • Việc đo lường mức tăng trưởng hữu cơ được thực hiện bằng cách so sánh doanh thu hàng năm và doanh thu cửa hàng có thể so sánh được.
  • Tăng trưởng hữu cơ trái ngược với tăng trưởng vô cơ, là tăng trưởng bên ngoài, chẳng hạn như thông qua sáp nhập và mua lại.
1:16

Tăng trưởng hữu cơ

Hiểu về tăng trưởng hữu cơ

Chiến lược tăng trưởng hữu cơ tìm cách tối đa hóa sự tăng trưởng từ bên trong. Có nhiều cách mà một công ty có thể tăng doanh số bán hàng trong nội bộ một tổ chức. Các chiến lược này thường ở dạng tối ưu hóa, phân bổ lại các nguồn lực và cung cấp sản phẩm mới.

Tối ưu hóa hoạt động kinh doanh tập trung vào việc tiếp tục cải tiến các quy trình của doanh nghiệp để giảm chi phí và đặt ra các chiến lược giá phù hợp cho sản phẩm hoặc dịch vụ. Việc phân bổ lại các nguồn lực liên quan đến việc phân bổ ngân quỹ và các nguyên vật liệu khác để sản xuất các sản phẩm có hiệu suất tốt nhất, trong khi các dịch vụ cung cấp sản phẩm mới tìm cách phát triển doanh nghiệp bằng cách giới thiệu hàng hóa và dịch vụ mới sẽ làm tăng thêm lợi nhuận và tăng trưởng chung.

Tăng trưởng hữu cơ cho phép các chủ sở hữu doanh nghiệp duy trì quyền kiểm soát công ty của họ trong khi sáp nhập hoặc mua lại sẽ làm loãng hoặc tước bỏ quyền kiểm soát của họ. Mặt khác, tăng trưởng tự nhiên mất nhiều thời gian hơn vì quá trình thu hút khách hàng mới và mở rộng kinh doanh với khách hàng hiện tại diễn ra chậm hơn. Sự kết hợp của cả tăng trưởng hữu cơ và vô cơ là lý tưởng cho một công ty, vì nó đa dạng hóa cơ sở doanh thu mà không chỉ dựa vào các hoạt động hiện tại để tăng thị phần.

Đo lường sự tăng trưởng hữu cơ

Các công ty sẽ sử dụng tăng trưởng doanh thu và thu nhập, hàng quý hoặc hàng năm, làm thước đo hiệu suất để đánh giá mức tăng trưởng tự nhiên. Việc theo đuổi tăng trưởng doanh số tự nhiên thường bao gồm các chương trình khuyến mãi, dòng sản phẩm mới hoặc dịch vụ khách hàng được cải thiện. Loại tăng trưởng này rất quan trọng bởi vì các nhà đầu tư muốn thấy rằng một công ty mà họ được đầu tư vào hoặc có kế hoạch đầu tư vào, có khả năng kiếm được nhiều hơn so với năm trước — một kỳ tích thường phản ánh ở việc giá cổ phiếu cao hơn hoặc tăng chi trả cổ tức.

Trong một số ngành, đặc biệt là trong ngành bán lẻ, tăng trưởng hữu cơ được đo lường bằng mức tăng trưởng tương đương hoặc so sánh trong khoảng thời gian 13 tuần. Doanh số bán hàng tại cửa hàng có thể so sánh và đôi khi là doanh số bán hàng tại cùng một cửa hàng giúp tăng trưởng doanh thu của các cửa hàng hiện có trong một khoảng thời gian đã chọn. Nói cách khác, doanh thu không ảnh hưởng đến tăng trưởng từ việc mở cửa hàng mới hoặc mua bán và sáp nhập (M&A).

Ví dụ về thế giới thực

Các công ty như Walmart, Costco và các nhà bán lẻ lớn khác báo cáo hàng quý để cung cấp cho các nhà đầu tư và nhà phân tích ý tưởng về sự tăng trưởng hữu cơ của họ. Walmart đã tăng doanh số bán hàng tổng hợp của mình lên 2,5% trong 53 tuần kết thúc vào ngày 31 tháng 1 năm 2020, không bao gồm nhiên liệu — một ví dụ rõ ràng về tăng trưởng hữu cơ mà Giám đốc điều hành của Walmart cho là tập trung chiến lược vào doanh số bán hàng so với việc mở cửa hàng mới bằng cách cải thiện trải nghiệm tại cửa hàng cho khách hàng .

Phân tích đầu tư của tăng trưởng hữu cơ so với tăng trưởng vô cơ

Nếu công ty A đang tăng trưởng với tốc độ 5% và công ty B đang tăng trưởng với tốc độ 25%, thì hầu hết các nhà đầu tư sẽ chọn đầu tư vào công ty B. Giả định rằng công ty A đang tăng trưởng với tốc độ chậm hơn so với công ty B, và do đó có tỷ suất sinh lợi thấp hơn.

Tuy nhiên, có một kịch bản khác cần xem xét. Điều gì sẽ xảy ra nếu công ty B tăng doanh thu lên 25% vì đã mua lại đối thủ cạnh tranh của mình với giá 12 tỷ đô la? Trên thực tế, lý do công ty B mua đối thủ cạnh tranh của mình là vì doanh số bán hàng của công ty B đã giảm 5%.

Công ty B có thể đang phát triển, nhưng dường như có nhiều rủi ro liên quan đến sự tăng trưởng của nó, trong khi công ty A đang tăng trưởng 5% mà không cần mua lại hoặc phải gánh thêm nợ. Có lẽ công ty A là khoản đầu tư tốt hơn mặc dù nó tăng trưởng với tốc độ chậm hơn nhiều so với công ty B. Một số nhà đầu tư có thể sẵn sàng chấp nhận rủi ro bổ sung, nhưng những người khác lại chọn đầu tư an toàn hơn.

Trong ví dụ này, công ty A, khoản đầu tư an toàn hơn, đã tăng doanh thu 5% nhờ tăng trưởng tự nhiên. Sự tăng trưởng không yêu cầu sáp nhập hoặc mua lại và xảy ra do sự gia tăng nhu cầu đối với các sản phẩm hiện tại của công ty. Công ty B có doanh thu giảm 5%, đó là sự suy giảm trong tăng trưởng hữu cơ. Tăng trưởng tổng thể tăng do hoạt động mua lại bằng cách vay tiền. Sự tăng trưởng của Công ty B hoàn toàn dựa vào các thương vụ mua lại hơn là dựa vào mô hình kinh doanh, điều này có thể không thuận lợi cho các nhà đầu tư.

Nguồn tham khảo: investmentopedia