Open Interest là gì?

21

Lãi suất mở là gì?

Lãi suất mở là tổng số hợp đồng phái sinh chưa thanh toán, chẳng hạn như quyền chọn hoặc hợp đồng tương lai chưa được thanh toán cho một tài sản. Tổng số tiền lãi mở không được tính, và tổng số tiền của mọi hợp đồng mua và bán. Thay vào đó, lãi suất mở cung cấp bức tranh chính xác hơn về hoạt động giao dịch quyền chọn và liệu dòng tiền chảy vào thị trường hợp đồng tương lai và quyền chọn đang tăng hay giảm.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Lãi suất mở là tổng số hợp đồng phái sinh chưa thanh toán, chẳng hạn như quyền chọn hoặc hợp đồng tương lai chưa được thanh toán.
  • Lãi suất mở bằng tổng số hợp đồng đã mua hoặc đã bán, không phải tổng số cả hai hợp đồng được cộng lại với nhau.
  • Lãi suất mở thường gắn liền với thị trường kỳ hạn và thị trường quyền chọn.
  • Lãi suất mở tăng thể hiện lượng tiền mới hoặc bổ sung vào thị trường trong khi lãi suất mở giảm cho thấy tiền đang chảy ra khỏi thị trường.
1:42

Sở thích mở

Nếu người mua và người bán đến với nhau và bắt đầu một vị thế mới của một hợp đồng, thì lãi suất mở sẽ tăng lên một hợp đồng. Nếu cả người mua và người bán đều thoát khỏi một vị thế hợp đồng trên một giao dịch, thì lãi suất mở sẽ giảm đi một hợp đồng. Tuy nhiên, nếu người mua hoặc người bán chuyển vị trí hiện tại của họ cho người mua hoặc người bán mới, thì lãi suất mở vẫn không thay đổi.

Giải thích về sở thích mở

Để hiểu về lãi suất mở, trước tiên chúng ta phải tìm hiểu cách thức tạo ra các quyền chọn và hợp đồng tương lai. Nếu một hợp đồng quyền chọn tồn tại, nó phải có người mua. Đối với mọi người mua, phải có người bán vì bạn không thể mua thứ gì đó không có sẵn để bán.

Mối quan hệ giữa người mua và người bán tạo ra một hợp đồng và một hợp đồng duy nhất tương đương với 100 cổ phiếu của tài sản cơ bản. Hợp đồng được coi là “mở” cho đến khi đối tác đóng nó. Cộng các hợp đồng mở, trong đó có người mua và người bán cho mỗi người, dẫn đến lãi mở.

Thay đổi đối với Sở thích mở

Điều quan trọng cần lưu ý là lãi suất mở bằng tổng số hợp đồng, không phải tổng mỗi giao dịch của mỗi người mua và người bán. Nói cách khác, lãi suất mở là tổng của tất cả các lần mua hoặc tất cả các lần bán, không phải cả hai.

Số lãi mở chỉ thay đổi khi người mua và người bán mới tham gia thị trường, tạo hợp đồng mới hoặc khi người mua và người bán gặp nhau — do đó đóng cả hai vị thế. Ví dụ: nếu một nhà giao dịch có mười hợp đồng ngắn (bán) và một nhà giao dịch khác có 10 hợp đồng dài (mua), và các nhà giao dịch này sau đó mua và bán mười hợp đồng cho nhau, các hợp đồng đó bây giờ đã đóng và sẽ được khấu trừ vào lãi mở.

Lãi suất mở thường gắn liền với thị trường hợp đồng tương lai và quyền chọn, nơi số lượng hợp đồng hiện có thay đổi hàng ngày. Các thị trường này khác với thị trường chứng khoán, nơi số lượng cổ phiếu đang lưu hành của một công ty không đổi sau khi việc phát hành cổ phiếu đã được hoàn thành.

Một quan niệm sai lầm phổ biến về lãi suất mở nằm ở khả năng dự đoán có mục đích của nó. Nó không thể dự báo hành động giá. Lãi suất mở cao hay thấp phản ánh sự quan tâm của nhà đầu tư, nhưng không có nghĩa là quan điểm của họ là đúng hoặc vị thế của họ sẽ sinh lời.

Lãi suất mở so với Khối lượng giao dịch

Lãi suất mở đôi khi bị nhầm lẫn với khối lượng giao dịch, nhưng hai thuật ngữ đề cập đến các biện pháp khác nhau. Vào một ngày khi một nhà giao dịch đã nắm giữ 10 hợp đồng quyền chọn bán 10 hợp đồng đó cho một nhà giao dịch mới tham gia thị trường, việc chuyển nhượng hợp đồng không tạo ra bất kỳ thay đổi nào trong con số lãi mở cho quyền chọn cụ thể đó.

Không có hợp đồng quyền chọn mới nào được thêm vào thị trường bởi vì một nhà giao dịch đang chuyển giao vị thế của họ cho người khác. Tuy nhiên, việc một chủ sở hữu quyền chọn hiện tại bán 10 hợp đồng quyền chọn cho một người mua quyền chọn sẽ làm tăng số lượng giao dịch trong ngày lên 10 hợp đồng.

Tầm quan trọng của lợi ích mở

Lãi suất mở là một thước đo hoạt động của thị trường. Ít hoặc không có lãi suất mở có nghĩa là không có vị thế mở hoặc gần như tất cả các vị thế đã được đóng. Lãi suất mở cao có nghĩa là vẫn còn nhiều hợp đồng mở, có nghĩa là những người tham gia thị trường sẽ theo dõi thị trường đó chặt chẽ.

Lãi suất mở là thước đo dòng tiền vào thị trường kỳ hạn hoặc thị trường quyền chọn. Lãi suất mở tăng thể hiện lượng tiền mới hoặc bổ sung vào thị trường trong khi lãi suất mở giảm cho thấy tiền đang chảy ra khỏi thị trường.

Sở thích mở đặc biệt quan trọng đối với các nhà giao dịch quyền chọn, vì nó cung cấp thông tin chính về tính thanh khoản của một quyền chọn.

Sở thích mở và Sức mạnh của xu hướng

Lãi suất mở cũng được sử dụng như một chỉ báo về sức mạnh của xu hướng. Vì lãi suất mở tăng thể hiện lượng tiền và lãi suất bổ sung vào thị trường, nên nó thường được hiểu là một dấu hiệu cho thấy xu hướng thị trường hiện tại đang tăng hoặc có khả năng tiếp tục.

Ví dụ: nếu xu hướng tăng đối với giá của tài sản cơ bản như cổ phiếu, thì việc tăng lãi suất mở có xu hướng ủng hộ sự tiếp tục của xu hướng đó. Khái niệm tương tự cũng áp dụng cho xu hướng giảm. Khi giá cổ phiếu giảm, và lãi suất mở đang tăng lên, thì lãi suất mở sẽ hỗ trợ cho việc giảm giá thêm.

Nhiều nhà phân tích kỹ thuật tin rằng kiến thức về lãi suất mở có thể cung cấp thông tin hữu ích về thị trường. Ví dụ: nếu có sự giảm tốc trong quan tâm mở sau một động thái liên tục — tăng hoặc giảm — về giá, thì điều đó có thể báo trước sự kết thúc của xu hướng đó.

Ví dụ trong thế giới thực về Sở thích mở

Dưới đây là bảng hoạt động giao dịch trên thị trường quyền chọn dành cho nhà giao dịch, A, B, C, D và E. Lãi suất mở được tính theo hoạt động giao dịch mỗi ngày.

Hình ảnh
Hình ảnh của Sabrina Jiang © Investopedia 2020
  • Ngày 1 tháng 1: Lãi suất mở tăng một vì chỉ có một hợp đồng được tạo bao gồm mua và bán.
  • Ngày 2 tháng 1: Năm hợp đồng quyền chọn mới được tạo, do đó, lãi suất mở tăng lên sáu.
  • Ngày 3 tháng 1: Lãi suất mở giảm một do các nhà giao dịch A và D bán một hợp đồng để đóng các vị thế của họ. Như đã nêu trước đó, lãi suất mở không phải là tổng của cả giao dịch mua và bán.
  • Ngày 4 tháng 1: Lãi suất mở vẫn ở mức năm vì không có hợp đồng mới nào được tạo. Nhà đầu tư E đã mua năm hợp đồng hiện có từ C.

Nguồn tham khảo: investmentopedia