One-Third Rule là gì?

21

Quy tắc một phần ba là gì?

Quy tắc một phần ba ước tính sự thay đổi trong năng suất lao động dựa trên sự thay đổi của vốn dành cho lao động. Quy tắc được sử dụng để xác định tác động của những thay đổi trong công nghệ hoặc vốn đối với sản xuất.

Tóm tắt ý chính

  • Quy tắc một phần ba là quy tắc ngón tay cái ước tính sự thay đổi của năng suất lao động dựa trên sự thay đổi của vốn trên một giờ lao động.
  • Quy tắc được sử dụng để xác định tác động của những thay đổi trong công nghệ hoặc vốn đối với sản xuất.
  • Người lao động càng sản xuất được nhiều hàng hóa và dịch vụ trong một giờ làm việc thì mức sống của nền kinh tế đó càng cao.
  • Có thể khó có thêm vốn nhân lực, đặc biệt là ở các nước có tỷ lệ tham gia hoặc tỷ lệ dân số tham gia lực lượng lao động thấp hơn.

Hiểu quy tắc một phần ba

Năng suất lao động là một thuật ngữ kinh tế mô tả chi phí sản xuất hàng giờ của một công nhân dựa trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chi ra để sản xuất ra giờ làm việc đó. Đặc biệt, quy tắc khẳng định rằng khi chi tiêu vốn cho lao động tăng 1%, thì kết quả là năng suất tăng 0,33% sẽ xảy ra. Quy tắc một phần ba tiếp tục giả định rằng tất cả các biến khác vẫn ở trạng thái tĩnh. Vì vậy, không có thay đổi nào về công nghệ hoặc vốn nhân lực xảy ra. Vốn con người là kiến thức và kinh nghiệm mà một người lao động có được.

Sử dụng quy tắc một phần ba, một nền kinh tế hoặc doanh nghiệp có thể ước tính mức độ đóng góp của công nghệ hoặc lao động vào năng suất chung. Ví dụ, giả sử một công ty tăng 6% vốn cho một giờ lao động trong một khoảng thời gian nhất định. Nói cách khác, chi phí cao hơn để sử dụng công nhân. Đồng thời, nguồn vốn vật chất của công ty cũng tăng 6%.

Sử dụng phương trình% Tăng năng suất = 1/3 (% Tăng vốn vật chất / Giờ lao động) +% Tăng công nghệ, người ta có thể suy ra rằng 4% mức tăng năng suất là do tiến bộ trong công nghệ.

Khi một quốc gia thiếu vốn nhân lực, quốc gia đó phải tập trung vào việc tăng vốn nhân lực thông qua nhập cư và đưa ra các biện pháp khuyến khích để tăng tỷ lệ sinh, hoặc tăng đầu tư vốn và phát triển các tiến bộ công nghệ mới.

Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động

Khó có thể định lượng chính xác năng suất lao động. Ví dụ, mặc dù đủ đơn giản để vẽ ra mối liên hệ giữa số lượng hàng hóa do lao động nhà máy sản xuất trong một giờ làm việc, nhưng việc đặt giá trị vào dịch vụ lại khó hơn. Thời gian của một nhân viên phục vụ có giá trị bao nhiêu? Một giờ của một kế toán viên thì sao? Điều dưỡng viên thì sao? Các nhà thống kê có thể ước tính giá trị đồng đô la của lao động trong những ngành nghề này, nhưng nếu không có hàng hóa hữu hình để thẩm định, thì việc định giá chính xác là không thể.

Đến lượt nó, năng suất lao động của một quốc gia tăng lên sẽ tạo ra tăng trưởng GDP thực tế trên đầu người. Vì năng suất cho biết số lượng hàng hóa mà một công nhân trung bình có thể sản xuất trong một giờ lao động, nên nó có thể cung cấp manh mối về mức sống của một quốc gia.

Ví dụ, trong cuộc Cách mạng Công nghiệp ở Châu Âu và Hoa Kỳ, những tiến bộ nhanh chóng về công nghệ công nghiệp đã cho phép người lao động thu được nhiều lợi nhuận trong tỷ lệ năng suất hàng giờ của họ. Sự gia tăng sản xuất này dẫn đến mức sống cao hơn ở Châu Âu và Hoa Kỳ. Nói chung, điều này xảy ra bởi vì, khi người lao động có thể sản xuất nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn, thì tiền lương của họ cũng tăng lên.

Nguồn tham khảo: investmentopedia