Wednesday, May 25, 2022

Creating liberating content

Roy’s Safety-First Criterion (SFRatio)...

Tiêu chí An toàn-Trên hết của Roy - SFRatio là gì? Tiêu...

Martial Law là gì?

Thiết quân luật là gì? Thiết quân luật là luật do quân...

Mezzanine Debt là gì?

Nợ Lửng Là Gì? Nợ lửng xảy ra khi một vấn đề...

Master Limited Partnership (MLP)...

Hợp danh hữu hạn chính (MLP) là gì? Công ty hợp danh...

Near Money là gì?

Gần tiền là gì?

Tiền gần, đôi khi được gọi là tiền gần hoặc các khoản tương đương tiền, là một thuật ngữ kinh tế tài chính mô tả các tài sản phi tiền mặt có tính thanh khoản cao và dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Tiền gần nghĩa là tài sản không dùng tiền mặt có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt.
  • Các nhà phân tích tài chính xem tiền gần như là một khái niệm quan trọng để kiểm tra tính thanh khoản.
  • Các ngân hàng trung ương sử dụng khái niệm gần tiền để phân loại tài sản là M1, M2 hoặc M3.

Hiểu gần tiền

Tiền gần là một thuật ngữ mà các nhà phân tích sử dụng để hiểu và định lượng tính thanh khoản và mức độ gần của tính thanh khoản đối với các tài sản tài chính. Cân nhắc về tiền gần được xem xét trong nhiều tình huống thị trường khác nhau. Hiểu biết về tiền gần và mức gần của tiền là điều cần thiết trong phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp và quản lý cung tiền. Tiền gần cũng có thể quan trọng trong tất cả các loại quản lý tài sản vì phân tích của nó cung cấp một phong vũ biểu cho tính thanh khoản của tiền mặt, chuyển đổi các khoản tương đương tiền và rủi ro.

Gần tiền và gần tiền (hoặc gần tiền) đã ảnh hưởng một cách toàn diện đến phân tích tài chính và các cân nhắc kinh tế trong nhiều thập kỷ. Các nhà phân tích tài chính xem tiền gần như là một khái niệm quan trọng để kiểm tra tính thanh khoản. Các ngân hàng trung ương và các nhà kinh tế học sử dụng khái niệm tiền gần để xác định các mức cung tiền khác nhau, với mức gần tiền đóng vai trò là một yếu tố để phân loại tài sản là M1, M2 hoặc M3.

Tiền gần thường đề cập đến tất cả các khoản gần tiền của một thực thể một cách toàn diện. Mức độ gần của tiền sẽ khác nhau tùy thuộc vào khung thời gian thực tế để chuyển đổi tiền mặt. Các yếu tố khác ảnh hưởng đến tiền gần cũng có thể bao gồm phí giao dịch hoặc hình phạt liên quan đến việc rút tiền.

Ví dụ về tài sản gần tiền bao gồm tài khoản tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi (CD), ngoại tệ, tài khoản thị trường tiền tệ, chứng khoán thị trường và tín phiếu kho bạc (T-bill). Nói chung, tài sản gần tiền được đưa vào phân tích tiền gần sẽ khác nhau tùy thuộc vào loại phân tích.

Quản lý tài sản cá nhân

Trong quản lý tài sản cá nhân, gần tiền có thể là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư. Tiền gần thường bao gồm các tài sản mà nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt trong vòng vài ngày hoặc vài tháng. Các nhà đầu tư phụ thuộc nhiều vào tính thanh khoản cao của tiền gần sẽ chọn các tùy chọn tiền gần có rủi ro rất thấp, ngắn hạn như tài khoản tiết kiệm có lợi suất cao, tài khoản thị trường tiền tệ, CD sáu tháng và tín phiếu T, cung cấp hàng năm thấp lợi nhuận với ít rủi ro mất mát.

Các nhà đầu tư có kho dự trữ tiền mặt cao hơn có thể có khả năng mở rộng phạm vi gần tiền hơn nữa để thu được lợi nhuận cao hơn. Ví dụ: CD hai năm có thời gian đáo hạn dài hơn với lợi tức kỳ vọng lớn hơn và do đó nằm ngoài phạm vi phổ biến hơn so với CD sáu tháng.

Ngoài các lựa chọn tiền gần rủi ro thấp, các nhà đầu tư còn có các lựa chọn rủi ro cao hơn như cổ phiếu. Các khoản đầu tư này có thể được chuyển đổi thành tiền mặt thông qua giao dịch trên thị trường trong khoảng vài ngày, vì vậy chúng rất gần trong ngắn hạn. Tuy nhiên, sự biến động và rủi ro của các khoản đầu tư cổ phiếu có thể đồng nghĩa với việc các nhà đầu tư có ít tiền hơn để rút ra cho nhu cầu ngay lập tức.

Tính thanh khoản của công ty

Khái niệm gần tiền và gần tiền là một phần không thể thiếu trong phân tích báo cáo tài chính đối với các doanh nghiệp. Nó được tìm thấy trong cốt lõi của phân tích thanh khoản bảng cân đối kế toán. Ở đây, mức độ gần của tiền được thể hiện thông qua hai tỷ số cơ bản: hệ số thanh toán nhanh và hệ số thanh toán hiện hành.

Hệ số thanh toán nhanh xem xét các tài sản có thời gian gần ngắn nhất, thường là 90 ngày. Các tài sản này bao gồm các khoản tương đương tiền, chứng khoán thị trường và các khoản phải thu. Chia sự kết hợp của các tài sản nhanh này cho nợ ngắn hạn cung cấp tỷ lệ giữa tài sản có tính thanh khoản cao nhất của một công ty so với nợ ngắn hạn của nó.

Thường được nhìn nhận theo hai cách, tỷ số này thể hiện giá trị của tài sản nhanh trên 1 đô la nợ ngắn hạn hoặc mức độ bao phủ của tài sản nhanh đối với nợ ngắn hạn. Nhìn chung, hệ số thanh toán nhanh càng cao thì công ty càng có khả năng trang trải các khoản nợ ngắn hạn bằng các tài sản có tính thanh khoản cao nhất.

Tỷ số thanh toán hiện hành đẩy xa hơn một chút trên phạm vi gần với các tài sản có tính thanh khoản thấp hơn tài sản thanh khoản nhanh nhưng vẫn có thể chuyển đổi thành tiền mặt trong vòng một năm. Hệ số thanh toán hiện hành kiểm tra tính thanh khoản của một công ty trong khoảng thời gian một năm bằng cách chia tất cả tài sản hiện tại của công ty cho nợ hiện tại của nó.

Cung tiền

Phân tích và tích hợp của các nhà kinh tế về kỹ thuật cung ứng tiền mở rộng hơn nữa về khái niệm gần tiền bằng cách chia nhỏ tài sản tiền gần thành các bậc gần nhau. Các cấp này được phân loại là M1, M2 và M3.

Cục Dự trữ Liên bang (Fed) nói chung có ba đòn bẩy mà nó có thể sử dụng để tác động đến cung tiền. Các đòn bẩy này là hoạt động thị trường mở, tỷ lệ quỹ liên bang và các yêu cầu về dự trữ ngân hàng. Việc điều chỉnh một hoặc tất cả các đòn bẩy này có thể ảnh hưởng đến cung tiền và các bậc khác nhau của nó. Do đó, mức cung tiền có thể đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích chính sách toàn diện của ngân hàng trung ương.

Khi đưa ra các quyết định của ngân hàng trung ương, các nhà kinh tế liên bang thường sẽ xem xét các hàm ý của M1, M2 và M3.

  • M1 tập trung vào tiền mặt và không bao gồm tiền gần. Còn được gọi là tiền hẹp, nó bao gồm tiền mặt, tiền xu, tiền gửi không kỳ hạn và tất cả các tài sản séc.
  • Cung tiền M2 bao gồm tiền gần và cung gần trung gian. Nó bao gồm mọi thứ trong M1, cộng với tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn dưới 100.000 đô la và quỹ thị trường tiền tệ bán lẻ.
  • M3 là đánh giá rộng nhất về cung tiền. Còn được gọi là tiền rộng, nó có thời gian chuyển đổi dài nhất. M3 bao gồm M1 và M2, cộng với các khoản tiền gửi dài hạn và có thời hạn lớn hơn, cũng như các quỹ thị trường tiền tệ của tổ chức.

Ở Mỹ, Fed chủ yếu sử dụng số liệu thống kê M1 và M2 để cân nhắc chính sách. Fed đã ngừng báo cáo M3 vào năm 2006.

Tiền gần được coi là một phần của cung tiền M2.

Tiền so với Gần tiền

Trong tất cả các đánh giá về tiền gần, điều quan trọng là phải phân biệt giữa tiền gần và tiền gần. Tiền bao gồm tiền mặt tại ngân hàng hoặc tiền mặt có thể nhận được theo yêu cầu để sử dụng như một phương tiện trao đổi giao dịch. Gần tiền đòi hỏi một thời gian để chuyển đổi tiền mặt.

Các cá nhân và doanh nghiệp cần có sẵn nguồn tiền mặt để đáp ứng các nghĩa vụ trước mắt. Trong phân tích của ngân hàng trung ương, M1 chủ yếu bao gồm tiền thực. Gần tiền không phải là tiền mặt, mà là những tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt.

Phạm vi của tài sản tiền gần sẽ khác nhau tùy thuộc vào loại phân tích. Việc gần tiền cũng sẽ là một yếu tố cần cân nhắc khi đưa ra tất cả các loại quyết định tài chính.

Nguồn tham khảo: investmentopedia

Get notified whenever we post something new!

spot_img

Create a website from scratch

Just drag and drop elements in a page to get started with Newspaper Theme.

Continue reading

Roy’s Safety-First Criterion (SFRatio) Definition là gì?

Tiêu chí An toàn-Trên hết của Roy - SFRatio là gì? Tiêu chí an toàn trên hết của Roy, còn được gọi là SFRatio, là một cách tiếp cận các quyết định đầu tư đặt ra mức lợi...

Martial Law là gì?

Thiết quân luật là gì? Thiết quân luật là luật do quân đội quản lý chứ không phải là chính phủ dân sự. Thiết quân luật có thể được ban bố trong trường hợp khẩn cấp hoặc như...

Mezzanine Debt là gì?

Nợ Lửng Là Gì? Nợ lửng xảy ra khi một vấn đề nợ hỗn hợp phụ thuộc vào một vấn đề nợ khác từ cùng một công ty phát hành. Nợ lửng có gắn các công cụ vốn...

Enjoy exclusive access to all of our content

Get an online subscription and you can unlock any article you come across.