Liquidity Trap là gì?

13

Bẫy thanh khoản là gì?

Bẫy thanh khoản là một tình huống kinh tế trái ngược nhau, trong đó lãi suất rất thấp và lãi suất tiết kiệm cao, làm cho chính sách tiền tệ không hiệu quả. Nhà kinh tế học John Maynard Keynes mô tả đầu tiên, trong một bẫy thanh khoản, người tiêu dùng chọn tránh trái phiếu và giữ tiền tiết kiệm bằng tiền mặt vì niềm tin phổ biến rằng lãi suất có thể sớm tăng (sẽ đẩy giá trái phiếu xuống). Bởi vì trái phiếu có mối quan hệ nghịch đảo với lãi suất, nhiều người tiêu dùng không muốn nắm giữ một tài sản có giá dự kiến sẽ giảm. Đồng thời, các nỗ lực của ngân hàng trung ương để thúc đẩy hoạt động kinh tế bị cản trở vì họ không thể giảm lãi suất hơn nữa để khuyến khích các nhà đầu tư và người tiêu dùng.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Bẫy thanh khoản là khi chính sách tiền tệ trở nên kém hiệu quả do lãi suất rất thấp kết hợp với việc người tiêu dùng thích tiết kiệm hơn là đầu tư vào trái phiếu có lợi suất cao hơn hoặc các khoản đầu tư khác.
  • Trong khi bẫy thanh khoản là một chức năng của điều kiện kinh tế, nó cũng mang tính tâm lý vì người tiêu dùng đang lựa chọn tích trữ tiền mặt thay vì chọn các khoản đầu tư có khả năng chi trả cao hơn do quan điểm kinh tế tiêu cực.
  • Một cái bẫy thanh khoản không chỉ giới hạn ở trái phiếu. Nó cũng ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác của nền kinh tế, vì người tiêu dùng đang chi tiêu ít hơn cho các sản phẩm, đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp có ít khả năng thuê hơn.
  • Một số cách để thoát khỏi bẫy thanh khoản bao gồm tăng lãi suất, hy vọng tình hình sẽ tự điều chỉnh khi giá cả giảm xuống mức hấp dẫn hoặc chi tiêu của chính phủ tăng lên.
1:23

Xem ngay: Bẫy thanh khoản là gì?

Hiểu về Bẫy thanh khoản

Trong một cái bẫy thanh khoản, nếu ngân hàng dự trữ của một quốc gia, như Cục Dự trữ Liên bang ở Hoa Kỳ, cố gắng kích thích nền kinh tế bằng cách tăng cung tiền, sẽ không có ảnh hưởng đến lãi suất, vì mọi người không cần phải được khuyến khích giữ thêm. tiền mặt.

Là một phần của bẫy thanh khoản, người tiêu dùng tiếp tục giữ tiền trong các tài khoản tiền gửi tiêu chuẩn, chẳng hạn như tài khoản tiết kiệm và tài khoản séc, thay vì trong các lựa chọn đầu tư khác, ngay cả khi hệ thống ngân hàng trung ương cố gắng kích thích nền kinh tế thông qua việc bơm thêm tiền. Mức tiết kiệm của người tiêu dùng cao, thường bị thúc đẩy bởi niềm tin về một sự kiện kinh tế tiêu cực sắp xảy ra, khiến chính sách tiền tệ nhìn chung không hiệu quả.

Niềm tin vào một sự kiện tiêu cực trong tương lai là chìa khóa quan trọng, bởi vì khi người tiêu dùng tích trữ tiền mặt và bán trái phiếu, điều này sẽ khiến giá trái phiếu giảm và lợi tức tăng. Mặc dù lợi suất tăng, người tiêu dùng không quan tâm đến việc mua trái phiếu do giá trái phiếu đang giảm. Thay vào đó, họ thích giữ tiền mặt với lợi suất thấp hơn.

Một vấn đề đáng chú ý của bẫy thanh khoản liên quan đến việc các tổ chức tài chính gặp khó khăn trong việc tìm kiếm những người vay đủ tiêu chuẩn. Điều này là do thực tế là, với lãi suất gần bằng 0, có rất ít cơ hội để có thêm động lực để thu hút các ứng viên có năng lực tốt. Tình trạng thiếu người đi vay này cũng thường xuất hiện ở các khu vực khác, nơi người tiêu dùng thường vay tiền, chẳng hạn như để mua ô tô hoặc nhà.

Dấu hiệu của Bẫy thanh khoản

Một dấu hiệu của bẫy thanh khoản là lãi suất thấp. Lãi suất thấp có thể ảnh hưởng đến hành vi của trái chủ, cùng với những lo ngại khác liên quan đến tình trạng tài chính hiện tại của quốc gia, dẫn đến việc bán trái phiếu theo hướng có hại cho nền kinh tế. Hơn nữa, việc bổ sung vào cung tiền không dẫn đến thay đổi mức giá, vì hành vi của người tiêu dùng nghiêng về tiết kiệm tiền theo những cách rủi ro thấp. Vì cung tiền tăng lên có nghĩa là có nhiều tiền hơn trong nền kinh tế, nên hợp lý là một số tiền đó nên chảy sang các tài sản có lợi suất cao hơn như trái phiếu. Nhưng trong một cái bẫy thanh khoản thì không, nó chỉ được cất giữ trong tài khoản tiền mặt dưới dạng tiết kiệm.

Chỉ riêng lãi suất thấp không tạo ra bẫy thanh khoản. Đối với tình hình đủ điều kiện, phải thiếu trái chủ muốn giữ trái phiếu của họ và nguồn cung hạn chế các nhà đầu tư muốn mua chúng. Thay vào đó, các nhà đầu tư đang ưu tiên tiết kiệm tiền mặt hơn là mua trái phiếu. Nếu các nhà đầu tư vẫn quan tâm đến việc nắm giữ hoặc mua trái phiếu vào những thời điểm lãi suất thấp, thậm chí gần bằng 0%, thì tình huống này không đủ điều kiện để trở thành một cái bẫy thanh khoản.

Xử lý Bẫy thanh khoản

Có một số cách để giúp nền kinh tế thoát khỏi bẫy thanh khoản. Không điều nào trong số này có thể tự hoạt động, nhưng có thể giúp tạo niềm tin cho người tiêu dùng để bắt đầu chi tiêu / đầu tư lại thay vì tiết kiệm.

  1. Cục Dự trữ Liên bang có thể tăng lãi suất, điều này có thể khiến mọi người đầu tư nhiều tiền hơn của họ, thay vì tích trữ nó. Điều này có thể không hiệu quả, nhưng nó là một trong những giải pháp khả thi.
  2. Giảm giá (lớn). Khi điều này xảy ra, mọi người không thể không tiêu tiền. Sự lôi kéo của mức giá thấp hơn trở nên quá hấp dẫn và các khoản tiết kiệm được sử dụng để tận dụng lợi thế của những mức giá thấp đó.
  3. Tăng chi tiêu của chính phủ. Khi chính phủ làm như vậy, điều đó có nghĩa là chính phủ cam kết và tin tưởng vào nền kinh tế quốc dân. Chiến thuật này cũng thúc đẩy tăng trưởng việc làm.

Các chính phủ đôi khi mua hoặc bán trái phiếu để giúp kiểm soát lãi suất, nhưng việc mua trái phiếu trong một môi trường tiêu cực như vậy sẽ rất ít, vì người tiêu dùng háo hức bán những gì họ có khi họ có thể. Do đó, việc đẩy lợi suất lên hoặc xuống trở nên khó khăn và càng khó hơn để khiến người tiêu dùng tận dụng tỷ giá mới.

Như đã thảo luận ở trên, khi người tiêu dùng lo sợ vì các sự kiện trong quá khứ hoặc các sự kiện trong tương lai, thì khó có thể khiến họ chi tiêu và không tiết kiệm. Các hành động của chính phủ trở nên kém hiệu quả hơn so với khi người tiêu dùng có nhiều rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận hơn so với khi nền kinh tế khỏe mạnh.

Ví dụ trong thế giới thực về bẫy thanh khoản

Bắt đầu từ những năm 1990, Nhật Bản phải đối mặt với bẫy thanh khoản. Lãi suất tiếp tục giảm nhưng có rất ít động lực để mua các khoản đầu tư. Nhật Bản đã phải đối mặt với tình trạng giảm phát trong suốt những năm 1990 và năm 2019 vẫn có lãi suất âm là -0,1%. Chỉ số Nikkei 225, chỉ số chứng khoán chính ở Nhật Bản, đã giảm từ mức đỉnh 39.260 vào đầu năm 1990 và đến năm 2019 vẫn ở dưới mức đỉnh đó. Chỉ số này đạt mức cao nhất trong nhiều năm là 24.448 vào năm 2018.

Bẫy thanh khoản một lần nữa xuất hiện sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và sau đó là cuộc Đại suy thoái, đặc biệt là ở Khu vực đồng tiền chung châu Âu. Lãi suất đã được đặt ở mức 0%, nhưng đầu tư, tiêu dùng và lạm phát vẫn giảm trong vài năm sau đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng. Ngân hàng Trung ương châu Âu đã sử dụng đến nới lỏng định lượng (QE) và chính sách lãi suất âm (NIRP) ở một số khu vực để giải phóng mình khỏi bẫy thanh khoản.

Nguồn tham khảo: investmentopedia