Issued Shares là gì?

33

Cổ phiếu được phát hành là gì?

Cổ phiếu đã phát hành là tập hợp con cổ phiếu được quyền chào bán đã được bán và nắm giữ bởi các cổ đông của công ty, bất kể họ là người nội bộ, nhà đầu tư tổ chức hay công chúng (như được trình bày trong báo cáo thường niên của công ty). Cổ phiếu đã phát hành bao gồm cổ phiếu mà một công ty bán công khai để tạo vốn và cổ phiếu được trao cho người trong cuộc như một phần trong gói bồi thường của họ.

Do đó, cổ phiếu được quyền phát hành là tổng số tiền mà một công ty có thể phát hành hoặc bán, và cổ phiếu đã phát hành là phần cổ phiếu được quyền mà một công ty đã bán hoặc đưa ra thị trường, bao gồm cả cổ phiếu mà họ nắm giữ trong quỹ của họ.

Cổ phiếu đã phát hành cũng khác với cổ phiếu đang lưu hành, hoặc số lượng cổ phiếu có mặt trên thị trường và được các nhà đầu tư sẵn sàng mua nhưng không bao gồm cổ phiếu mà công ty nắm giữ trong quỹ của mình. Cổ phiếu đã phát hành có thể trái ngược với cổ phiếu chưa phát hành đã được quyền chào bán trong tương lai nhưng chưa được phát hành.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Cổ phiếu đã phát hành đề cập đến tổng số cổ phiếu vốn chủ sở hữu của một công ty do các nhà đầu tư, người trong cuộc nắm giữ và dự trữ để trả công cho nhân viên.
  • Không giống như cổ phiếu đang lưu hành, cổ phiếu đã phát hành là cổ phiếu quỹ – cổ phiếu mà một công ty mua lại từ các cổ đông.
  • Số lượng cổ phiếu phát hành lần đầu phải được hội đồng quản trị của công ty uỷ quyền và chấp thuận.
1:12

Cổ phiếu đã phát hành

Tìm hiểu cổ phiếu đã phát hành

Một công ty chỉ phát hành cổ phiếu một lần; sau đó, nhà đầu tư có thể bán lại cho nhà đầu tư khác trên thị trường thứ cấp. Khi các công ty mua lại cổ phiếu của chính họ, cổ phiếu đó vẫn được liệt kê là đã phát hành, mặc dù chúng được xếp vào loại “cổ phiếu quỹ” vì công ty có thể bán lại chúng. Đối với một công ty nhỏ, được tổ chức chặt chẽ, chủ sở hữu ban đầu có thể nắm giữ tất cả số cổ phiếu đã phát hành.

Số lượng cổ phiếu đã phát hành được ghi trên bảng cân đối kế toán của công ty dưới dạng cổ phiếu vốn hoặc vốn chủ sở hữu, trong khi cổ phiếu đang lưu hành (cổ phiếu đã phát hành trừ đi bất kỳ cổ phiếu nào trong quỹ) được liệt kê trong hồ sơ hàng quý của công ty với Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch (SEC) . Số lượng cổ phiếu đang lưu hành cũng được tìm thấy trong phần vốn của báo cáo thường niên của công ty.

Số lượng cổ phiếu đã phát hành và đang lưu hành, được sử dụng để tính giá trị vốn hóa thị trường và thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS), thường giống nhau.

Cổ phiếu được ủy quyền là những cổ phiếu mà người sáng lập hoặc hội đồng quản trị (B of D) của công ty đã chấp thuận trong thủ tục hồ sơ công ty của họ. Cổ phiếu đã phát hành là cổ phiếu mà người sở hữu đã quyết định bán để đổi lấy tiền mặt, có thể ít hơn số cổ phiếu thực tế được quyền phát hành.

Cổ phiếu được phát hành tạo ra tài sản hoặc giá trị khác được trao cho việc thành lập công ty hoặc phát triển công ty sau này. Ví dụ: một công ty có thể giữ lại các cổ phiếu được ủy quyền để tiến hành đợt chào bán thứ cấp sau này, đôi khi được gọi là chào mua công khai hoặc giữ chúng cho các quyền chọn mua cổ phiếu của nhân viên (ESO).

Cổ phần đã phát hành và Quyền sở hữu

Quyền sở hữu của một công ty có thể được đo lường bằng cách xác định nhà đầu tư nào đã được phát hành cổ phiếu khi công ty khởi nghiệp hoặc thông qua đợt chào bán thứ cấp. Quyền sở hữu cũng có thể được đo lường bằng cách đếm cổ phiếu đã phát hành và đang lưu hành, cùng với những cổ phiếu có thể được phát hành nếu tất cả các quyền chọn mua cổ phiếu được phép được thực hiện, được gọi là phép tính pha loãng hoàn toàn.

Ngoài ra, quyền sở hữu có thể được đo lường bằng cách sử dụng cổ phiếu đã phát hành và được ủy quyền như một dự báo về vị thế của các cổ đông có thể có trong tương lai. Đây được gọi là tính toán mô hình làm việc. Tất cả các thành viên hội đồng quản trị phải sử dụng cùng một phép tính khi đưa ra các quyết định hoặc kế hoạch cho doanh nghiệp.

Ví dụ

Ví dụ, nếu một công ty khởi nghiệp phát hành 10 triệu cổ phiếu trong số 20 triệu cổ phiếu được quyền phát hành cho một chủ sở hữu và cổ phiếu của chủ sở hữu là cổ phiếu duy nhất được phát hành, thì chủ sở hữu có 100% cổ phần của công ty.

Các hội đồng quản trị thường sử dụng tính toán hoàn toàn pha loãng hoặc mô hình làm việc để lập kế hoạch và dự kiến. Ví dụ: nếu hội đồng quản trị tin rằng họ có thể phát hành thêm hai triệu cổ phiếu cho một nhà đầu tư và cung cấp ba triệu cổ phiếu dưới dạng quyền chọn cổ phiếu cho nhân viên có hiệu suất cao, thì hội đồng quản trị có thể cung cấp cho những người sáng lập thêm quyền chọn cổ phiếu để họ không làm loãng đáng kể tỷ lệ sở hữu của họ.

Nguồn tham khảo: investmentopedia