IRS Publication 525 là gì?

27

IRS Publication 525 là gì?

Ấn phẩm 525, Thu nhập chịu thuế và Không chịu thuế, là một tài liệu do Sở Thuế vụ (IRS) xuất bản nêu chi tiết những loại thu nhập mà người nộp thuế nên xem là chịu thuế hay không chịu thuế khi khai thuế .

Thu nhập của người đóng thuế có thể đến từ một số nguồn khác ngoài việc làm thường xuyên. Thu nhập có thể ở dạng tiền, tài sản và dịch vụ. Trừ khi một loại thu nhập được pháp luật đặc biệt miễn thuế, thì thu nhập đó sẽ được coi là thu nhập chịu thuế.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Ấn phẩm 525, Thu nhập chịu thuế và Không chịu thuế, là một tài liệu do Sở Thuế vụ (IRS) xuất bản nêu chi tiết những loại thu nhập mà người nộp thuế nên xem là chịu thuế hay không chịu thuế khi khai thuế.
  • Thu nhập có thể ở dạng tiền, tài sản và dịch vụ.
  • Ấn phẩm 525 được cập nhật thường xuyên để phản ánh bất kỳ thay đổi nào về mã số thuế hoặc các quy định.

Tìm hiểu IRS Publication 525

Ấn phẩm 525 phác thảo cách nhân viên đối xử với thu nhập từ các kế hoạch hưu trí, quyền chọn mua cổ phiếu, và các khoản phúc lợi khác cũng như cách báo cáo thu nhập của họ từ các quan hệ đối tác kinh doanh, đầu tư bất động sản và lương hưu cho người khuyết tật. Nó cũng mô tả cách một số loại nhân viên, chẳng hạn như quân nhân và giáo sĩ, nên báo cáo thu nhập của họ như thế nào.

Ấn phẩm 525 được cập nhật thường xuyên để phản ánh bất kỳ thay đổi nào về mã số thuế hoặc các quy định. Các cập nhật có thể bao gồm những thứ như giảm thuế thiên tai cho những cư dân đang phục hồi sau thảm họa thiên nhiên, chẳng hạn như bão hoặc cháy rừng .

Thu nhập chịu thuế bao gồm bất kỳ khoản tiền lương, tiền công và tiền boa nào. Tuy nhiên, có nhiều loại thu nhập chịu thuế khác .

Thu nhập có sẵn cho một người đóng thuế, cho dù người đó có thực sự sở hữu hay không, đều được coi là chịu thuế. Ví dụ, một chi phiếu lương đã được chuyển cho người nộp thuế trước khi kết thúc năm tính thuế được coi là thu nhập chịu thuế, ngay cả khi người đó chưa chuyển séc đó bằng tiền mặt vào cuối năm. Tương tự như vậy, thu nhập do đại lý của người nộp thuế thay mặt họ nhận được coi là chịu thuế, ngay cả khi bên thứ ba đó chưa giao tiền cho người nộp thuế.

Thu nhập trả trước cũng được coi là chịu thuế. Ví dụ, nếu một nhà thầu được trả 10.000 đô la để bắt đầu công việc xây dựng một ngôi nhà, nhưng không hoàn thành công việc trước khi kết thúc năm tính thuế, thì 10.000 đô la đó vẫn phải chịu thuế, kể từ khi nhà thầu đã nhận được khoản thanh toán .

Các khoản trợ cấp cũng được coi là thu nhập chịu thuế, ngoài tiền lãi thu được thông qua hầu hết các phương tiện đầu tư. Các khoản trợ cấp ngoài lề cũng được coi là thu nhập chịu thuế .

1:53

7 Nguồn thu nhập không chịu thuế

Thu nhập không chịu thuế bao gồm các khoản thanh toán phúc lợi, trợ cấp chăm sóc sức khỏe, thừa kế và quà tặng. Các khoản thanh toán cấp dưỡng con trẻ, hoàn trả tiền mặt cho các món hàng đã mua và tiền được hoàn trả từ việc nhận con nuôi đủ điều kiện cũng không được IRS coi là thu nhập chịu thuế .

Nếu một người nhận tiền thông qua hợp đồng bảo hiểm nhân thọ do cái chết của chủ hợp đồng bảo hiểm, thu nhập đó được coi là không phải chịu thuế. Tuy nhiên, nếu người đó chỉ đơn giản rút tiền mặt trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đó, thì thu nhập nhận được thông qua việc chuyển tiền mặt trong hợp đồng bảo hiểm có thể bị đánh thuế .

Một số học bổng không bị đánh thuế, mặc dù tiền học bổng được sử dụng để làm gì có thể xác định xem người nhận có phải nộp thuế cho nó hay không .

Nguồn tham khảo: investmentopedia