International Financial Reporting Standards (IFRS) là gì?

14

Các Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) là gì?

Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) là một tập hợp các quy tắc kế toán cho các báo cáo tài chính của các công ty đại chúng nhằm làm cho chúng nhất quán, minh bạch và dễ dàng so sánh trên toàn thế giới.

IFRS hiện có đầy đủ hồ sơ cho 166 khu vực pháp lý. kể cả những nước thuộc Liên minh Châu Âu. Hoa Kỳ sử dụng một hệ thống khác, Các Nguyên tắc Kế toán Thường được Chấp nhận (GAAP).

IFRS do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) ban hành.

Hệ thống IFRS đôi khi bị nhầm lẫn với các Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IAS), là các chuẩn mực cũ hơn mà IFRS đã thay thế vào năm 2001.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Các Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) được tạo ra để mang lại sự nhất quán và toàn vẹn cho các chuẩn mực và thông lệ kế toán, bất kể công ty hay quốc gia.
  • Chúng được phát hành bởi Hội đồng Chuẩn mực Kế toán có trụ sở tại Luân Đôn (IASB) và đề cập đến việc lưu trữ hồ sơ, báo cáo tài khoản và các khía cạnh khác của báo cáo tài chính.
  • IFRS nâng cao tính minh bạch của doanh nghiệp.
1:13

Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS)

Hiểu các Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS)

IFRS quy định chi tiết cách các công ty phải duy trì hồ sơ và báo cáo chi phí và thu nhập của họ. Họ được thành lập để tạo ra một ngôn ngữ kế toán chung có thể được hiểu trên toàn cầu bởi các nhà đầu tư, kiểm toán viên, cơ quan quản lý chính phủ và các bên quan tâm khác.

Các tiêu chuẩn này được thiết kế để mang lại sự nhất quán cho ngôn ngữ kế toán, thông lệ và báo cáo, đồng thời giúp các doanh nghiệp và nhà đầu tư đưa ra các phân tích và quyết định tài chính có học thức.

Chúng được phát triển bởi Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế, một phần của Tổ chức IFRS phi lợi nhuận, có trụ sở tại Luân Đôn. Quỹ cho biết họ đặt ra các tiêu chuẩn để “mang lại sự minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả cho các thị trường tài chính trên toàn thế giới”.

IFRS so với GAAP

Các công ty đại chúng ở Hoa Kỳ được yêu cầu sử dụng hệ thống đối thủ, Nguyên tắc Kế toán Thường được Chấp nhận (GAAP). Các tiêu chuẩn GAAP được phát triển bởi Ban Kế toán Chuẩn mực Tài chính (FSAB) và Ban Chuẩn mực Kế toán Chính phủ (GASB).

Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch (SEC) cho biết họ sẽ không chuyển sang Tiêu chuẩn Báo cáo Tài chính Quốc tế nhưng sẽ tiếp tục xem xét đề xuất cho phép thông tin IFRS để bổ sung vào hồ sơ tài chính của Hoa Kỳ.

Có sự khác biệt giữa báo cáo IFRS và GAAP. Ví dụ, IFRS không nghiêm ngặt trong việc xác định doanh thu và cho phép các công ty báo cáo doanh thu sớm hơn. Bảng cân đối sử dụng hệ thống này có thể hiển thị luồng doanh thu cao hơn so với phiên bản GAAP của cùng một bảng cân đối.

IFRS cũng có các yêu cầu khác nhau về báo cáo chi phí. Ví dụ, nếu một công ty đang chi tiền để phát triển hoặc đầu tư cho tương lai, thì nó không nhất thiết phải được báo cáo là một khoản chi phí. Thay vào đó, nó có thể được viết hoa.

Yêu cầu IFRS Chuẩn

IFRS bao gồm một loạt các hoạt động kế toán. Có một số khía cạnh nhất định của thực tiễn kinh doanh mà IFRS đặt ra các quy tắc bắt buộc.

  • Báo cáo Tình hình Tài chính : Đây là bảng cân đối kế toán. IFRS ảnh hưởng đến cách thức báo cáo các thành phần của bảng cân đối kế toán.
  • Báo cáo thu nhập toàn diện : Báo cáo này có thể ở dạng một báo cáo hoặc được tách thành báo cáo lãi và lỗ và báo cáo thu nhập khác, bao gồm tài sản và thiết bị.
  • Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu: Còn được gọi là báo cáo lợi nhuận giữ lại, báo cáo này ghi lại sự thay đổi của công ty trong thu nhập hoặc lợi nhuận trong thời kỳ tài chính nhất định.
  • Báo cáo Lưu chuyển Tiền tệ: Báo cáo này tóm tắt các giao dịch tài chính của công ty trong thời kỳ nhất định, tách dòng tiền thành các hoạt động, đầu tư và tài trợ.

Ngoài các báo cáo cơ bản này, một công ty phải đưa ra một bản tóm tắt về các chính sách kế toán của mình. Báo cáo đầy đủ thường được nhìn thấy bên cạnh báo cáo trước đó để cho thấy những thay đổi trong lãi và lỗ.

Công ty mẹ phải tạo các báo cáo tài khoản riêng cho từng công ty con của mình.

Các công ty Trung Quốc không sử dụng IFRS hoặc GAAP. Họ sử dụng các Chuẩn mực Kế toán Trung Quốc dành cho Doanh nghiệp Kinh doanh (ASBE).

Lịch sử IFRS

IFRS có nguồn gốc từ Liên minh Châu Âu với mục đích làm cho các vấn đề kinh doanh và tài khoản có thể truy cập được trên khắp lục địa. Nó nhanh chóng được sử dụng như một ngôn ngữ kế toán thông dụng.

Mặc dù Hoa Kỳ và một số quốc gia khác không sử dụng IFRS, nhưng hiện tại có 166 khu vực pháp lý sử dụng, khiến IFRS trở thành bộ tiêu chuẩn được sử dụng nhiều nhất trên toàn cầu.

Ai sử dụng IFRS?

IFRS bắt buộc phải được sử dụng bởi các công ty đại chúng có trụ sở tại hơn 160 quốc gia, bao gồm tất cả các quốc gia trong Liên minh Châu Âu cũng như Canada, Ấn Độ, Nga, Hàn Quốc, Nam Phi và Chile.

Mỹ và Trung Quốc đều có hệ thống riêng của họ.

IFRS khác với GAAP như thế nào?

Hai hệ thống có cùng mục tiêu: rõ ràng và trung thực trong báo cáo tài chính của các công ty giao dịch công khai.

IFRS được thiết kế như là một cách tiếp cận dựa trên tiêu chuẩn có thể được sử dụng trên phạm vi quốc tế. GAAP là một hệ thống dựa trên quy tắc được sử dụng chủ yếu ở Hoa Kỳ

Mặc dù hầu hết thế giới sử dụng các tiêu chuẩn IFRS, nó vẫn không phải là một phần của thế giới kế toán tài chính Hoa Kỳ. SEC tiếp tục xem xét việc chuyển sang IFRS nhưng vẫn chưa thực hiện.

Một số khác biệt về phương pháp luận tồn tại giữa hai hệ thống. Ví dụ: GAAP cho phép một công ty sử dụng một trong hai phương pháp chi phí hàng tồn kho: Nhập trước, Xuất trước (FIFO) hoặc Nhập sau, Xuất trước (LIFO). LIFO, tuy nhiên, bị cấm theo IFRS.

Tại sao IFRS lại quan trọng?

IFRS thúc đẩy sự minh bạch và tin tưởng vào thị trường tài chính toàn cầu và các công ty niêm yết cổ phiếu của họ trên đó. Nếu các tiêu chuẩn này không tồn tại, các nhà đầu tư sẽ không muốn tin vào các báo cáo tài chính và các thông tin khác do các công ty trình bày. Nếu không có sự tin tưởng đó, chúng ta có thể thấy ít giao dịch hơn và nền kinh tế kém mạnh mẽ hơn.

IFRS cũng giúp các nhà đầu tư phân tích các công ty bằng cách giúp dễ dàng thực hiện các phép so sánh “táo với táo” giữa công ty này với công ty khác và phân tích cơ bản về hoạt động của công ty.

Nguồn tham khảo: investmentopedia