Hysteresis là gì?

20

Hiện tượng trễ là gì?

Độ trễ trong lĩnh vực kinh tế học đề cập đến một sự kiện trong nền kinh tế vẫn tồn tại ngay cả sau khi các yếu tố dẫn đến sự kiện đó đã bị loại bỏ hoặc chạy theo hướng khác. Hiện tượng trễ thường xảy ra sau các sự kiện kinh tế cực đoan hoặc kéo dài như khủng hoảng kinh tế hoặc suy thoái kinh tế. Ví dụ, sau một cuộc suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp có thể tiếp tục tăng lên bất chấp sự tăng trưởng của nền kinh tế và sự kết thúc của thời kỳ suy thoái về mặt kỹ thuật.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Độ trễ trong kinh tế học đề cập đến một sự kiện trong nền kinh tế vẫn tồn tại trong tương lai, ngay cả sau khi các yếu tố dẫn đến sự kiện đó đã bị loại bỏ.
  • Chậm trễ có thể bao gồm các tác động chậm trễ của thất nghiệp, theo đó tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục tăng ngay cả sau khi nền kinh tế đã phục hồi.
  • Trễ kinh có thể chỉ ra một sự thay đổi vĩnh viễn trong lực lượng lao động do mất kỹ năng làm việc khiến người lao động ít có việc làm hơn ngay cả khi suy thoái kinh tế đã kết thúc.

Hiểu trễ

Thuật ngữ trễ do Sir James Alfred Ewing, một nhà vật lý và kỹ sư người Scotland (1855-1935) đặt ra, để chỉ các hệ thống, sinh vật và trường có trí nhớ. Nói cách khác, hậu quả của một số đầu vào có độ trễ hoặc độ trễ thời gian nhất định. Một ví dụ được thấy với sắt: sắt duy trì một số từ hóa sau khi nó được tiếp xúc và loại bỏ khỏi từ trường. Từ trễ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là sắp ngắn hoặc thiếu hụt.

Độ trễ trong kinh tế học phát sinh khi một xáo trộn duy nhất ảnh hưởng đến tiến trình của nền kinh tế. Các lý do cụ thể gây ra hiện tượng trễ thay đổi tùy thuộc vào sự kiện kết tủa. Điều đó nói lên rằng, tình trạng thị trường bất ổn kéo dài sau khi sự kiện trôi qua về mặt kỹ thuật thường được cho là do sự thay đổi thái độ của những người tham gia thị trường do sự kiện này. Ví dụ, sau khi thị trường sụp đổ, nhiều nhà đầu tư không muốn tái đầu tư số tiền mặt mà họ có trong tay do những khoản lỗ gần đây của họ. Sự miễn cưỡng này dẫn đến việc giá cổ phiếu sụt giảm trong thời gian dài hơn do thái độ của các nhà đầu tư hơn là các nguyên tắc cơ bản của thị trường.

Các loại trễ

Tỷ lệ thất nghiệp trễ

Một ví dụ phổ biến của hiện tượng trễ là tác động chậm trễ của thất nghiệp, theo đó tỷ lệ thất nghiệp có thể tiếp tục tăng ngay cả khi nền kinh tế đã bắt đầu phục hồi. Tỷ lệ thất nghiệp hiện tại là tỷ lệ phần trăm của số người trong nền kinh tế đang tìm kiếm việc làm nhưng không tìm được việc làm nào. Để hiểu được tình trạng thất nghiệp trễ, trước hết chúng ta phải tìm hiểu các dạng thất nghiệp. Trong một cuộc suy thoái, tức là hai quý liên tiếp của tăng trưởng theo hợp đồng, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên.

Khi suy thoái xảy ra, thất nghiệp theo chu kỳ tăng lên do nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng âm. Thất nghiệp theo chu kỳ tăng lên khi nền kinh tế hoạt động kém và giảm khi nền kinh tế đang mở rộng.

Thất nghiệp tự nhiên không phải là kết quả của suy thoái. Thay vào đó, nó là kết quả của một dòng lao động tự nhiên đến và rời khỏi công việc. Thất nghiệp tự nhiên giải thích tại sao những người thất nghiệp tồn tại trong một nền kinh tế đang phát triển và mở rộng. Còn được gọi là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên đại diện cho mọi người, bao gồm cả sinh viên tốt nghiệp đại học hoặc những người bị sa thải vì tiến bộ công nghệ. Sự di chuyển liên tục, liên tục của lao động trong và ngoài việc làm tạo nên thất nghiệp tự nhiên. Tuy nhiên, thất nghiệp tự nhiên có thể do cả hai yếu tố tự nguyện và không tự nguyện.

Khi công nhân bị sa thải do chuyển nhà máy hoặc vì công nghệ thay thế công việc của họ, thì tình trạng thất nghiệp mang tính cơ cấu vẫn tồn tại. Thất nghiệp cơ cấu, là một phần của thất nghiệp tự nhiên, xảy ra ngay cả khi nền kinh tế đang phát triển lành mạnh và đang phát triển. Nó có thể là do môi trường kinh doanh hoặc bối cảnh kinh tế thay đổi và nó có thể kéo dài trong nhiều năm. Thất nghiệp cơ cấu thường do thay đổi kinh doanh, chẳng hạn như chuyển nhà máy ra nước ngoài, thay đổi công nghệ và thiếu kỹ năng cho công việc mới.

Tại sao trễ xảy ra trong thất nghiệp

Như đã nêu trước đó, thất nghiệp theo chu kỳ là do chu kỳ kinh doanh suy thoái. Người lao động bị mất việc làm khi doanh nghiệp tiến hành sa thải nhân viên trong thời gian đặc trưng bởi nhu cầu thấp và doanh thu kinh doanh giảm sút. Khi nền kinh tế trở lại giai đoạn mở rộng, dự kiến các doanh nghiệp sẽ bắt đầu thuê lại những người thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế sẽ bắt đầu giảm xuống theo tỷ lệ thất nghiệp bình thường hoặc tự nhiên cho đến khi tỷ lệ thất nghiệp theo chu kỳ bằng không. Tất nhiên, đây là viễn cảnh lý tưởng. Tuy nhiên, hiện tượng trễ kể một câu chuyện khác.

Độ trễ nói rằng khi tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, thì càng có nhiều người thích nghi với mức sống thấp hơn. Khi đã quen với mức sống thấp hơn, mọi người có thể không còn động lực để đạt được mức sống cao hơn mong muốn trước đây. Ngoài ra, khi ngày càng có nhiều người thất nghiệp, thì việc bị hoặc vẫn thất nghiệp trở nên dễ chấp nhận hơn về mặt xã hội. Sau khi thị trường lao động trở lại bình thường, một số người thất nghiệp có thể không quan tâm đến việc quay trở lại lực lượng lao động. Cuối cùng, và đáng kể nhất, bản thân người sử dụng lao động đã phải trải qua những nỗi đau đáng kể trong thời kỳ suy thoái và sẽ có nhiều khả năng yêu cầu nhiều lao động còn lại hơn trước khi chịu chi phí lớn hơn khi bổ sung vào lực lượng lao động của họ.

Độ trễ do công nghệ

Chậm trễ thất nghiệp cũng có thể được quan sát thấy khi các doanh nghiệp chuyển sang tự động hóa trong thời kỳ thị trường suy thoái. Người lao động không có các kỹ năng cần thiết để vận hành máy móc này hoặc công nghệ mới được lắp đặt sẽ thấy mình không có việc làm khi nền kinh tế bắt đầu phục hồi. Ngoài việc chỉ thuê những công nhân hiểu biết về công nghệ, những công ty này cuối cùng sẽ thuê ít nhân viên hơn so với trước giai đoạn suy thoái. Trên thực tế, việc mất kỹ năng làm việc sẽ gây ra sự chuyển dịch của người lao động từ giai đoạn thất nghiệp theo chu kỳ sang nhóm thất nghiệp cơ cấu. Tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu gia tăng sẽ kéo theo tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên tăng.

Trễ kinh có thể chỉ ra một sự thay đổi vĩnh viễn trong lực lượng lao động do mất kỹ năng làm việc khiến người lao động ít có việc làm hơn ngay cả khi suy thoái kinh tế đã kết thúc.

Ví dụ về độ trễ

Cuộc suy thoái kinh tế mà Vương quốc Anh trải qua vào năm 1981 là một mô tả tốt về tác động của hiện tượng trễ. Trong thời kỳ suy thoái của đất nước, tỷ lệ thất nghiệp tăng mạnh từ 1,5 triệu năm 1980 lên 2 triệu năm 1981. Sau suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên hơn 3 triệu từ năm 1984 đến 1986. Sự hỗn loạn của cuộc suy thoái đã tạo ra thất nghiệp cơ cấu kéo dài trong quá trình phục hồi. và trở nên khó quản lý.

Cân nhắc đặc biệt

Làm thế nào để ngăn chặn hiện tượng trễ

Các nền kinh tế đang trải qua suy thoái và trì hoãn, trong đó tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên đang tăng lên, thường sử dụng các biện pháp kích thích kinh tế để chống lại tỷ lệ thất nghiệp theo chu kỳ. Các chính sách tiền tệ mở rộng của các ngân hàng trung ương, chẳng hạn như Cục Dự trữ Liên bang, có thể bao gồm việc hạ lãi suất để làm cho các khoản vay rẻ hơn và giúp kích thích nền kinh tế. Chính sách tài khóa mở rộng cũng có thể bao gồm việc tăng chi tiêu của chính phủ ở các khu vực hoặc ngành bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi thất nghiệp.

Tuy nhiên, tình trạng trễ hơn thất nghiệp theo chu kỳ và có thể tồn tại rất lâu sau khi nền kinh tế phục hồi. Đối với các vấn đề dài hạn, chẳng hạn như thiếu kỹ năng do người lao động bị thay thế bởi các tiến bộ công nghệ, các chương trình đào tạo việc làm có thể hữu ích để chống lại sự chậm trễ.

Nguồn tham khảo: investmentopedia