Gross National Income (GNI) là gì?

55

Tổng thu nhập quốc dân (GNI) là gì?

Tổng thu nhập quốc dân (GNI) là tổng số tiền mà người dân và doanh nghiệp của một quốc gia kiếm được. Nó được sử dụng để đo lường và theo dõi sự giàu có của một quốc gia từ năm này sang năm khác. Con số bao gồm tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của quốc gia cộng với thu nhập mà quốc gia đó nhận được từ các nguồn ở nước ngoài.

Thuật ngữ được biết đến rộng rãi hơn GDP là ước tính tổng giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. GNI là một phương tiện thay thế cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) như một phương tiện đo lường và theo dõi sự giàu có của một quốc gia và được coi là một chỉ số chính xác hơn đối với một số quốc gia. Cục Kinh tế Hoa Kỳ (BEA) theo dõi GDP để đo lường sức khỏe của nền kinh tế Hoa Kỳ từ năm này sang năm khác. Hai con số chênh lệch không đáng kể. Cuối cùng, có tổng sản phẩm quốc dân (GNP), là một thước đo rộng rãi của tất cả các hoạt động kinh tế.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Tổng thu nhập quốc dân (GNI) là một phương pháp thay thế cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) như một thước đo của sự giàu có. Nó tính toán thu nhập thay vì sản lượng.
  • GNI có thể được tính bằng cách cộng thu nhập từ các nguồn nước ngoài vào tổng sản phẩm quốc nội.
  • Các quốc gia có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đáng kể, sự hiện diện của các công ty nước ngoài hoặc viện trợ nước ngoài sẽ cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa GNI và GDP.
1:56

Tổng thu nhập quốc dân (GNI)

Tìm hiểu Tổng thu nhập quốc dân (GNI)

GNI tính toán tổng thu nhập mà người dân và doanh nghiệp của một quốc gia kiếm được, bao gồm cả thu nhập đầu tư, bất kể thu nhập đó được kiếm ở đâu. Nó cũng bao gồm các khoản tiền nhận được từ nước ngoài như đầu tư nước ngoài và viện trợ phát triển kinh tế.

Nơi cư trú, thay vì quyền công dân, là tiêu chí để xác định quốc tịch trong tính toán GNI, miễn là người cư trú chi tiêu thu nhập của họ trong nước. GNI đã được các tổ chức như Ngân hàng Thế giới ưu tiên hơn GDP. Nó cũng được Liên minh châu Âu sử dụng để tính toán đóng góp của các quốc gia thành viên.

Để tính GNI, khoản bồi thường cho nhân viên cư trú của các công ty nước ngoài và thu nhập từ tài sản ở nước ngoài thuộc sở hữu của người cư trú được cộng vào GDP, trong khi khoản tiền bồi thường mà các công ty thường trú trả cho nhân viên nước ngoài và thu nhập do chủ sở hữu tài sản trong nước ở nước ngoài tạo ra được trừ đi. Thuế sản phẩm và thuế nhập khẩu chưa được tính vào GDP cũng được cộng vào GNI, trong khi trợ cấp được trừ đi.

Để quy đổi GDP của một quốc gia thành GNI, cần phải thêm ba thuật ngữ trước đây: 1) Thu nhập nước ngoài trả cho nhân viên cư trú), 2) Thu nhập nước ngoài trả cho chủ sở hữu bất động sản và nhà đầu tư, và 3) thuế ròng trừ các khoản trợ cấp phải thu đối với hoạt động sản xuất và hàng nhập khẩu.

Ví dụ trong thế giới thực về GNI

Đối với nhiều quốc gia, có rất ít sự khác biệt giữa GDP và GNI, vì sự khác biệt giữa thu nhập mà quốc gia nhận được so với các khoản thanh toán cho phần còn lại của thế giới không có xu hướng đáng kể. Ví dụ, GNI của Hoa Kỳ cho năm 2020 là khoảng 21,3 nghìn tỷ đô la, theo Ngân hàng Thế giới. GDP trong cùng năm đó là 20,9 nghìn tỷ đô la.

Tuy nhiên, đối với một số quốc gia, sự khác biệt là đáng kể. GNI có thể cao hơn nhiều so với GDP nếu một quốc gia nhận được một lượng lớn viện trợ nước ngoài, như trường hợp của Đông Timor, nơi ghi nhận GNI năm 2020 là 2,4 tỷ đô la và GDP là 1,8 tỷ đô la. Nhưng nó có thể thấp hơn nhiều nếu người nước ngoài kiểm soát một tỷ lệ lớn sản xuất của một quốc gia, như trường hợp của Ireland, một khu vực tài phán thuế thấp nơi các công ty con của một số công ty đa quốc gia ở Châu Âu và Hoa Kỳ cư trú trên danh nghĩa. Ireland ghi nhận GNI năm 2020 chỉ là 308,4 tỷ đô la trong khi GDP của họ trong cùng thời kỳ là 418,6 tỷ đô la.

GDP so với GNI so với GNP

Trong ba biện pháp, GNP là biện pháp ít được sử dụng nhất, có thể vì nó có thể là lừa đảo. Ví dụ, nếu những công dân giàu có nhất của một quốc gia thường xuyên chuyển tiền của họ ra nước ngoài, thì việc đếm số tiền đó sẽ làm tăng khối tài sản rõ ràng của quốc gia.

Trên thực tế, GNI hiện có thể là sự phản ánh chính xác nhất của cải quốc gia dựa trên dân số di động và thương mại toàn cầu ngày nay.

  • GDP là tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ đã hoàn thành được sản xuất trong một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định.
  • GNI là tổng thu nhập mà quốc gia nhận được từ cư dân và doanh nghiệp của quốc gia đó bất kể họ ở trong nước hay nước ngoài.
  • GNP bao gồm thu nhập của tất cả cư dân và doanh nghiệp của một quốc gia cho dù nó chảy về nước hay được chi tiêu ra nước ngoài. Nó cũng bổ sung thêm các khoản trợ cấp và thuế từ các nguồn nước ngoài.
Hình ảnh
Hình ảnh của Sabrina Jiang © Investopedia 2020

GNI khác với GDP và GNP như thế nào?

Tổng thu nhập quốc dân (GNI) tính toán tổng thu nhập mà người dân và doanh nghiệp của một quốc gia kiếm được, bao gồm cả thu nhập đầu tư, bất kể thu nhập đó được kiếm ở đâu. Nơi cư trú, thay vì quyền công dân, là tiêu chí để xác định quốc tịch trong tính toán GNI. Nó cũng bao gồm các khoản tiền nhận được từ nước ngoài như đầu tư nước ngoài và viện trợ phát triển kinh tế.

GDP là tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ đã hoàn thành được sản xuất trong một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định. GNP bao gồm thu nhập của tất cả cư dân và doanh nghiệp của một quốc gia cho dù nó chảy về nước hay được chi tiêu ra nước ngoài. Nó cũng bổ sung thêm các khoản trợ cấp và thuế từ các nguồn nước ngoài.

GNI được tính như thế nào?

Để tính GNI, khoản bồi thường cho nhân viên cư trú của các công ty nước ngoài và thu nhập từ tài sản ở nước ngoài thuộc sở hữu của người cư trú được cộng vào GDP, trong khi khoản tiền bồi thường mà các công ty thường trú trả cho nhân viên nước ngoài và thu nhập do chủ sở hữu tài sản trong nước ở nước ngoài tạo ra được trừ đi. Thuế sản phẩm và thuế nhập khẩu chưa được tính vào GDP cũng được cộng vào GNI, trong khi trợ cấp được trừ đi.

GNI là hữu ích khi nào?

Đối với các quốc gia, như Hoa Kỳ, có rất ít sự khác biệt giữa GDP và GNI, vì sự khác biệt giữa thu nhập nhận được so với các khoản thanh toán cho phần còn lại của thế giới không có xu hướng đáng kể. Tuy nhiên, đối với một số quốc gia, sự khác biệt là đáng kể. GNI có thể cao hơn nhiều so với GDP nếu một quốc gia nhận được một lượng lớn viện trợ nước ngoài, như trường hợp của Đông Timor. Ngược lại, nó có thể thấp hơn nhiều nếu người nước ngoài kiểm soát một tỷ lệ lớn sản xuất của một quốc gia, như trường hợp của Ireland, một khu vực tài phán thuế thấp nơi các công ty con của một số công ty đa quốc gia ở Châu Âu và Hoa Kỳ cư trú trên danh nghĩa.

Nguồn tham khảo: investmentopedia