Global Recession là gì?

31

Suy thoái toàn cầu là gì?

Suy thoái toàn cầu là một giai đoạn kéo dài của sự suy giảm kinh tế trên toàn thế giới. Suy thoái toàn cầu ít nhiều liên quan đến suy thoái đồng bộ trên nhiều nền kinh tế quốc gia, khi các quan hệ thương mại và hệ thống tài chính quốc tế truyền các cú sốc kinh tế và tác động của suy thoái từ quốc gia này sang quốc gia khác.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) sử dụng một loạt các tiêu chí để xác định các cuộc suy thoái toàn cầu, bao gồm cả sự sụt giảm tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người trên toàn thế giới. Theo định nghĩa của IMF, sự sụt giảm sản lượng toàn cầu này phải đồng thời với sự suy yếu của các chỉ số kinh tế vĩ mô khác, chẳng hạn như thương mại, dòng vốn và việc làm.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Suy thoái toàn cầu là một giai đoạn kéo dài của sự suy giảm kinh tế trên toàn thế giới.
  • IMF sử dụng một số tiêu chí để phân tích sự xuất hiện, quy mô và tác động của các cuộc suy thoái toàn cầu.
  • Suy thoái toàn cầu liên quan đến suy thoái đồng bộ trên nhiều nền kinh tế được kết nối với nhau.
  • Ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu đối với các nền kinh tế riêng lẻ khác nhau dựa trên một số yếu tố, bao gồm cả mức độ kết nối và sự phụ thuộc của chúng vào nền kinh tế toàn cầu.

Tìm hiểu về các cuộc suy thoái toàn cầu

Các chỉ số kinh tế vĩ mô phải suy yếu trong một thời gian đáng kể để được xếp vào nhóm suy thoái. Ở Hoa Kỳ, người ta thường chấp nhận rằng GDP phải giảm trong hai quý liên tiếp để suy thoái thực sự xảy ra, dựa trên phân tích của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER), cơ quan được coi là cơ quan quốc gia trong việc tuyên bố và xác định niên đại kinh doanh. các chu kỳ. Đối với các cuộc suy thoái toàn cầu, IMF đóng một vai trò tương tự như NBER.

Trong khi không có định nghĩa chính thức về suy thoái toàn cầu, các tiêu chí do IMF thiết lập có sức nặng đáng kể vì tầm vóc của tổ chức trên toàn cầu. Không giống như NBER, IMF không quy định khoảng thời gian tối thiểu khi xem xét các cuộc suy thoái toàn cầu. Ngược lại với một số định nghĩa về suy thoái, IMF xem xét các yếu tố bổ sung ngoài sự suy giảm GDP. Cũng phải kể đến sự suy thoái của các yếu tố kinh tế khác, bao gồm thương mại, dòng vốn, sản xuất công nghiệp, tiêu thụ dầu, tỷ lệ thất nghiệp, đầu tư bình quân đầu người và tiêu dùng bình quân đầu người.

Lý tưởng nhất là các nhà kinh tế có thể chỉ cần thêm số liệu GDP của mỗi quốc gia để đạt được “GDP toàn cầu”. Số lượng lớn các loại tiền tệ được sử dụng trên khắp thế giới khiến quá trình này trở nên khó khăn hơn đáng kể. Mặc dù một số tổ chức sử dụng tỷ giá hối đoái để tính tổng sản lượng, IMF thích sử dụng sức mua tương đương (PPP) – nghĩa là lượng hàng hóa hoặc dịch vụ địa phương mà một đơn vị tiền tệ có thể mua được hơn là lượng ngoại tệ mà nó có thể mua — trong phân tích của nó.

Lịch sử của các cuộc suy thoái toàn cầu

Cho đến năm 2020, theo IMF, đã có bốn cuộc suy thoái toàn cầu kể từ Chiến tranh Thế giới thứ hai, bắt đầu vào các năm 1975, 1982, 1991 và 2009. Năm 2020, IMF tuyên bố một cuộc suy thoái toàn cầu mới, mà tổ chức này gọi là Cuộc khủng hoảng kinh tế, gây ra. bằng cách triển khai rộng rãi các biện pháp kiểm dịch và tránh xa xã hội trong thời gian bùng phát COVID-19. Đây là cuộc suy thoái toàn cầu tồi tệ nhất được ghi nhận kể từ cuộc Đại suy thoái.

Chống lây nhiễm và cách nhiệt

Tác động và mức độ nghiêm trọng của ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu đối với một quốc gia khác nhau dựa trên một số yếu tố. Ví dụ, các mối quan hệ thương mại của một quốc gia với phần còn lại của thế giới xác định quy mô tác động đến lĩnh vực sản xuất của quốc gia đó. Mặt khác, sự phức tạp của thị trường và hiệu quả đầu tư quyết định mức độ ảnh hưởng của ngành dịch vụ tài chính.

Sự kết nối giữa các mối quan hệ thương mại và hệ thống tài chính giữa các quốc gia có thể giúp đẩy một cú sốc kinh tế ở một khu vực trở thành một cuộc suy thoái toàn cầu. Quá trình này được gọi là lây lan.

Ví dụ về một cuộc suy thoái toàn cầu

Đại suy thoái là một giai đoạn kéo dài của tình trạng kinh tế cùng cực được quan sát thấy trên khắp thế giới từ năm 2007 đến năm 2009. Thương mại thế giới đã giảm hơn 15% từ năm 2008 đến năm 2009 trong cuộc suy thoái này. Quy mô, tác động và sự phục hồi của suy thoái khác nhau giữa các quốc gia.

Thị trường chứng khoán Mỹ đã trải qua một đợt điều chỉnh lớn vào năm 2008 sau khi thị trường nhà đất sụp đổ và Lehman Brothers đệ đơn phá sản. Các điều kiện kinh tế đã đi xuống vào cuối năm 2007 và các chỉ số chính như thất nghiệp và lạm phát đã chạm mức nghiêm trọng với sự sụp đổ của bong bóng nhà đất và cuộc khủng hoảng tài chính sau đó.

Tình hình được cải thiện vài năm sau khi thị trường chứng khoán chạm đáy vào năm 2009, nhưng các quốc gia khác phải trải qua những chặng đường dài hơn nhiều để phục hồi. Hơn một thập kỷ sau, ảnh hưởng vẫn có thể được cảm nhận ở nhiều quốc gia phát triển và các thị trường mới nổi.

Theo nghiên cứu kinh tế được thực hiện cho NBER, Hoa Kỳ sẽ phải chịu những cú sốc hạn chế đối với nền kinh tế của mình nếu cuộc suy thoái năm 2008 không bắt nguồn từ biên giới của nó. Điều này chủ yếu là do nó có mối quan hệ thương mại hạn chế với phần còn lại của thế giới so với quy mô của nền kinh tế trong nước.

Mặt khác, một cường quốc sản xuất như Đức có thể sẽ bị thiệt hại bất kể nền kinh tế nội tại có vững mạnh hay không vì nước này có một số lượng lớn các liên kết thương mại với phần còn lại của thế giới.

Nguồn tham khảo: investmentopedia