Floating Exchange Rate là gì?

89

Tỷ giá hối đoái thả nổi là gì?

Tỷ giá hối đoái thả nổi là một chế độ mà giá tiền tệ của một quốc gia do thị trường ngoại hối ấn định dựa trên cung và cầu so với các loại tiền tệ khác. Điều này trái ngược với tỷ giá hối đoái cố định, trong đó chính phủ quyết định hoàn toàn hoặc chủ yếu tỷ giá.

1:27

Tỷ giá hối đoái thả nổi

Tóm tắt ý chính

  • Tỷ giá hối đoái thả nổi là tỷ giá hối đoái được xác định bởi cung và cầu trên thị trường mở.
  • Tỷ giá hối đoái thả nổi không có nghĩa là các quốc gia không cố gắng can thiệp và thao túng giá tiền tệ của họ, vì các chính phủ và ngân hàng trung ương thường cố gắng giữ cho giá tiền tệ của họ thuận lợi cho thương mại quốc tế.
  • Trao đổi cố định là một mô hình tiền tệ khác và đây là nơi một loại tiền tệ được chốt hoặc giữ ở cùng một giá trị so với một loại tiền tệ khác.
  • Tỷ giá hối đoái thả nổi trở nên phổ biến hơn sau sự thất bại của bản vị vàng và thỏa thuận Bretton Woods.
Lịch sử tỷ giá hối đoái thả nổi

Investopedia / Sabrina Jiang

Cách hoạt động của một tỷ giá hối đoái thả nổi

Hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi có nghĩa là sự thay đổi giá tiền tệ trong dài hạn phản ánh sức mạnh kinh tế tương đối và chênh lệch lãi suất giữa các quốc gia.

Các động thái ngắn hạn đối với tiền tệ có tỷ giá hối đoái thả nổi phản ánh đầu cơ, tin đồn, thảm họa và cung cầu hàng ngày đối với tiền tệ. Nếu cung vượt cầu thì đồng tiền đó sẽ giảm và nếu cầu vượt cung thì đồng tiền đó sẽ tăng.

Các động thái cực đoan trong ngắn hạn có thể dẫn đến sự can thiệp của các ngân hàng trung ương, ngay cả trong môi trường tỷ giá thả nổi. Do đó, trong khi hầu hết các loại tiền tệ chính trên toàn cầu được coi là thả nổi, các ngân hàng trung ương và chính phủ có thể can thiệp nếu đồng tiền của một quốc gia trở nên quá cao hoặc quá thấp.

Một đồng tiền quá cao hoặc quá thấp có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế của quốc gia, ảnh hưởng đến thương mại và khả năng trả nợ. Chính phủ hoặc ngân hàng trung ương sẽ cố gắng thực hiện các biện pháp để chuyển đồng tiền của họ đến một mức giá có lợi hơn.

Tỷ giá hối đoái cố định so với thả nổi

Giá tiền tệ có thể được xác định theo hai cách: tỷ giá thả nổi hoặc tỷ giá cố định. Như đã đề cập ở trên, tỷ giá thả nổi thường được xác định bởi thị trường mở thông qua cung và cầu. Do đó, nếu nhu cầu về tiền tệ cao thì giá trị sẽ tăng lên. Nếu nhu cầu thấp, điều này sẽ khiến giá tiền tệ đó thấp hơn.

Một tỷ giá cố định hoặc cố định được xác định bởi chính phủ thông qua ngân hàng trung ương của nó. Tỷ giá được đặt so với một loại tiền tệ chính khác trên thế giới (chẳng hạn như đô la Mỹ, euro hoặc yên). Để duy trì tỷ giá hối đoái của mình, chính phủ sẽ mua và bán đồng tiền của chính mình so với đồng tiền mà nó được chốt. Một số quốc gia chọn neo đồng tiền của họ với đô la Mỹ bao gồm Trung Quốc và Ả Rập Xê Út.

Tiền tệ của hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới được phép thả nổi tự do sau sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods từ năm 1968 đến năm 1973.

Lịch sử tỷ giá hối đoái thả nổi thông qua Thỏa thuận Bretton Woods

Hội nghị Bretton Woods, nơi thiết lập tiêu chuẩn vàng cho tiền tệ, diễn ra vào tháng 7 năm 1944. Tổng cộng 44 quốc gia đã nhóm họp, với số lượng người tham dự chỉ giới hạn ở phe Đồng minh trong Thế chiến thứ hai. Hội nghị đã thành lập Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới, đồng thời đề ra các hướng dẫn cho một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định. Hệ thống thiết lập giá vàng là 35 đô la một ounce, với các quốc gia tham gia cố định tiền tệ của họ với đồng đô la. Điều chỉnh cộng hoặc trừ một phần trăm đã được cho phép. Đồng đô la Mỹ trở thành đồng tiền dự trữ mà qua đó các ngân hàng trung ương tiến hành can thiệp điều chỉnh hoặc ổn định tỷ giá.

Vết nứt lớn đầu tiên trong hệ thống xuất hiện vào năm 1967, với việc chạy theo vàng và tấn công vào đồng bảng Anh dẫn đến mất giá 14,3%. Tổng thống Richard Nixon đã đưa Hoa Kỳ ra khỏi chế độ bản vị vàng vào năm 1971.

Vào cuối năm 1973, hệ thống đã sụp đổ và các đồng tiền tham gia được phép thả nổi tự do.

Không cố gắng can thiệp bằng tiền tệ

Trong hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi, các ngân hàng trung ương mua hoặc bán nội tệ của họ để điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Điều này có thể nhằm mục đích ổn định thị trường biến động hoặc đạt được một sự thay đổi lớn về tỷ giá. Các nhóm ngân hàng trung ương, chẳng hạn như ngân hàng của các quốc gia G-7 (Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ), thường phối hợp với nhau trong các biện pháp can thiệp phối hợp để tăng tác động.

Một sự can thiệp thường là ngắn hạn và không phải lúc nào cũng thành công. Một ví dụ nổi bật về một cuộc can thiệp thất bại diễn ra vào năm 1992 khi nhà tài chính George Soros tiến hành một cuộc tấn công vào đồng bảng Anh. Đồng tiền này đã tham gia Cơ chế Tỷ giá hối đoái Châu Âu (ERM) vào tháng 10 năm 1990; ERM được thiết kế để hạn chế sự biến động của tiền tệ như một yếu tố dẫn dắt đồng euro, vốn vẫn đang trong giai đoạn lập kế hoạch. Soros tin rằng đồng bảng Anh đã tham gia với tỷ giá quá cao và ông đã gây ra một cuộc tấn công phối hợp vào đồng tiền này. Ngân hàng Trung ương Anh đã buộc phải phá giá tiền tệ và rút khỏi ERM. Sự can thiệp thất bại đã khiến Bộ Tài chính Vương quốc Anh thiệt hại 3,3 tỷ bảng Anh. Mặt khác, Soros kiếm được hơn 1 tỷ đô la.

Các ngân hàng trung ương cũng có thể can thiệp gián tiếp vào thị trường tiền tệ bằng cách tăng hoặc giảm lãi suất để tác động đến dòng tiền của các nhà đầu tư vào trong nước. Vì những nỗ lực kiểm soát giá trong các biên độ chặt chẽ đã thất bại trong lịch sử, nhiều quốc gia đã chọn thả nổi tiền tệ của họ và sau đó sử dụng các công cụ kinh tế để giúp thúc đẩy nó theo hướng này hoặc hướng khác nếu nó di chuyển quá xa so với sự thoải mái của họ.

Nguồn tham khảo: investmentopedia