Fixed Asset Turnover Ratio là gì?

17

Tỷ lệ vòng quay tài sản cố định là gì?

Nói chung, tỷ lệ vòng quay tài sản cố định (FAT) được các nhà phân tích sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động. Tỷ lệ hiệu quả này so sánh doanh thu thuần (báo cáo thu nhập) với tài sản cố định (bảng cân đối kế toán) và đo lường khả năng của một công ty trong việc tạo ra doanh thu thuần từ các khoản đầu tư tài sản cố định, cụ thể là tài sản, nhà máy và thiết bị (PP&E).

Số dư tài sản cố định được sử dụng như một khoản khấu hao lũy kế ròng. Tỷ số vòng quay tài sản cố định cao hơn cho thấy một công ty đã sử dụng hiệu quả các khoản đầu tư vào tài sản cố định để tạo ra doanh thu.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Tỷ số vòng quay tài sản cố định cho biết mức độ hiệu quả của một công ty trong việc tạo ra doanh thu từ các tài sản cố định hiện có của mình.
  • Một tỷ lệ cao hơn cho thấy rằng ban giám đốc đang sử dụng tài sản cố định của mình một cách hiệu quả hơn.
  • Tỷ lệ FAT cao không nói lên bất cứ điều gì về khả năng tạo ra lợi nhuận hoặc dòng tiền ổn định của một công ty.
1:27

Tỷ lệ luân chuyển tài sản cố định

Tìm hiểu về tỷ lệ luân chuyển tài sản cố định

Công thức tính hệ số vòng quay tài sản cố định là:

MẬP = Mạng lưới bán hàng Tài sản cố định trung bình ở đâu: Mạng lưới bán hàng = Tổng doanh thu, lợi nhuận ít hơn và phụ cấp Tài sản cố định trung bình = NABB Số dư cuối kỳ 2 NABB = Số dư đầu kỳ của tài sản cố định ròng begin {align} & text {FAT} = frac { text {Doanh số ròng}} { text {Tài sản cố định trung bình}} & textbf {where:} & text {Doanh số ròng} = text {Tổng doanh thu, lợi nhuận ít hơn và phụ cấp} & text {Tài sản cố định trung bình} = frac { text {NABB} – text {Số dư cuối kỳ}} {2} & text {NABB} = text {Tài sản cố định ròng ‘số dư đầu kỳ} end {align}

FAT = Doanh thu ròng tài sản cố định trung bìnhở đâu:Doanh thu ròng = Tổng doanh thu, lợi nhuận ít hơn và phụ cấpTài sản cố định trung bình = 2 NABB Số dư cuối kỳNABB = Số dư đầu kỳ của tài sản cố định ròng

Tỷ lệ này thường được sử dụng làm thước đo trong các ngành sản xuất thực hiện việc mua nhiều PP&E để tăng sản lượng. Khi một công ty thực hiện những giao dịch mua đáng kể như vậy, các nhà đầu tư khôn ngoan theo dõi chặt chẽ tỷ lệ này trong những năm tiếp theo để xem liệu tài sản cố định mới của công ty có thưởng cho nó bằng việc tăng doanh số bán hàng hay không.

Nhìn chung, các khoản đầu tư vào tài sản cố định có xu hướng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản của công ty. Tỷ lệ FAT, được tính toán hàng năm, được xây dựng để phản ánh mức độ hiệu quả của một công ty, hay cụ thể hơn là đội ngũ quản lý của công ty, đã sử dụng những tài sản đáng kể này để tạo ra doanh thu cho công ty.

Diễn giải tỷ lệ luân chuyển tài sản cố định

Tỷ lệ doanh thu cao hơn cho thấy hiệu quả cao hơn trong việc quản lý các khoản đầu tư vào tài sản cố định, nhưng không có một con số hoặc phạm vi chính xác nào cho biết liệu một công ty có hiệu quả trong việc tạo ra doanh thu từ các khoản đầu tư đó hay không. Vì lý do này, điều quan trọng đối với các nhà phân tích và nhà đầu tư là phải so sánh tỷ lệ gần đây nhất của công ty với cả tỷ lệ lịch sử của chính công ty đó và giá trị tỷ số từ các công ty ngang hàng và / hoặc tỷ lệ trung bình cho toàn ngành của công ty nói chung.

Mặc dù tỷ lệ FAT có tầm quan trọng đáng kể trong một số ngành nhất định, nhà đầu tư hoặc nhà phân tích phải xác định xem công ty đang nghiên cứu có thuộc lĩnh vực hoặc ngành thích hợp để tính toán tỷ lệ này hay không trước khi đưa ra nhiều trọng số cho nó.

Tài sản cố định thay đổi đáng kể giữa các loại hình công ty. Ví dụ, hãy xem xét sự khác biệt giữa một công ty internet và một công ty sản xuất. Một công ty internet, chẳng hạn như Meta (trước đây là Facebook), có cơ sở tài sản cố định nhỏ hơn đáng kể so với một công ty sản xuất khổng lồ, chẳng hạn như Caterpillar. Rõ ràng, trong ví dụ này, tỷ lệ vòng quay tài sản cố định của Caterpillar phù hợp hơn và nên có trọng số hơn tỷ lệ FAT của Meta.

Sự khác biệt giữa tỷ số vòng quay tài sản cố định và tỷ số vòng quay tài sản cố định

Tỷ lệ vòng quay tài sản sử dụng tổng tài sản thay vì chỉ tập trung vào tài sản cố định như đã thực hiện trong tỷ lệ FAT. Việc sử dụng tổng tài sản đóng vai trò như một chỉ số phản ánh một số quyết định của ban lãnh đạo về chi tiêu vốn và các tài sản khác.

Hạn chế của việc sử dụng tỷ lệ tài sản cố định

Các công ty có doanh số bán hàng theo chu kỳ có thể có tỷ lệ tồi tệ hơn trong thời gian chậm, vì vậy tỷ lệ này nên được xem xét trong một số khoảng thời gian khác nhau. Ngoài ra, ban lãnh đạo có thể thuê ngoài sản xuất để giảm sự phụ thuộc vào tài sản và cải thiện tỷ lệ FAT, trong khi vẫn phải vật lộn để duy trì dòng tiền ổn định và các yếu tố kinh doanh cơ bản khác.

Các công ty có tỷ số vòng quay tài sản mạnh vẫn có thể thua lỗ vì số lượng doanh thu do tài sản cố định tạo ra không nói lên khả năng tạo ra lợi nhuận vững chắc hay dòng tiền lành mạnh của công ty.

Nguồn tham khảo: investmentopedia