Chỉ báo Tích lủy Khối lượng (Cumulative Volume Index – CVI) là chỉ báo cường độ dao động, cho biết dòng tiền đang vào hay ra khỏi thị trường.

CVI được tính bằng cách lấy khối lượng giao dịch của chứng khoán tăng giá trừ khối lượng giao dịch cùa chửng khoán giảm giá và sau đó tính tổng tích lũy.

Khối lượng giao dịch của chứng khoán tăng giá, khối lượng giao dịch của chứng khoán giảm giá và khối lượng giao dịch của chứng khoán.

Cách sử dụng CUMULATIVE VOLUME INDEX

CVI và OBV (On Balance Volume, trang 229) khá giống nhau. Nhiều phần mềm máy tính và nhà đầu tư dà nhầm lần giữa OBV và CVI.

Cũng giống như CVI, OBV được dùng để xác định dòng tiền đang vào hay ra khói thị trường. Tuy nhiên, vì khối lượng giao dịch của chứng khoán tăng giá (up-volume) và khối lượng giao dịch của chứng khoán giảm giá (down-volume) trong kỳ giao dịch của từng cổ phiếu riêng lẻ không xác định được nên OBV giả định tất cả khối lượng cổ phiếu giao dịch trong kỳ là khối lượng giao dịch tăng khi giá cổ phiếu đóng cửa cao hơn giá mở cửa và tất cả khối lượng cổ phiếu giao dịch trong kỳ là khối lượng giao dịch giảm khi giá cổ phiếu đóng cửa thấp hơn giá mở cửa.

CVI không già định như vậy vì chi báo này có thể tính toán được khối lượng giao dịch cùa chứng khoán tăng giá và khối lượng giao dịch của chứng khoán giảm giá thực tế của NYSE.

Vì CVI luôn bắt đầu ở mức 0 nên giá trị số học của chỉ báo này không quan trọng. Điều quan trọng là độ dốc và sự dịch chuyển cùa CVI.

Một cách sử dụng CVI hiệu quả là quan sát xu hướng tổng quan của chỉ báo này. CVI cho thấy khối lượng giao dịch của chứng khoán tăng giá hay khối lượng giao dịch của chứng khoán giảm giá nhiều hơn và xu hướng khối lượng giao dịch hiện tại đã kéo dài bao lâu.

Chúng ta cũng nên theo dõi phân kỳ (xem trang 36) giữaa CVI và chỉ số thị trường. Ví dụ, khi CVI không thể tạo đỉnh mới thì thị trường có tạo đỉnh mới hay không? Nếu có thì thị trường có thể diều chỉnh để xác nhận tín hiệu cùa CVI.

Ví dụ
Trong hướng dẫn sử dụng phần mềm vào ngày 18/07/1984, tôi đã trình bày về CVI như sau:

“Đường xu hướng trong đồ thị dưới đây cho thấy khối lượng giao dịch củaa chứng khoán tăng lớn hơn khối lượng giao dịch của chứng khoán giảm (tính trung bình) trong cả năm 1983. Đường xu hướng tăng này bị phá vờ (vào tháng 2/1984) đã xác nhận sự suy yếu cùa thị trường.

Sau khi phá vờ xu hướng tăng, CVI lại bắt đầu có xu hướng đi lên (và đi ngang) một lần nửa. Trong khi thị trường đi xuống thì khối lượng giao dịch của chứng khoán tăng vẫn lớn hơn hoặc bằng khối lượng giao dịch của chứng khoán giảm (CVI vẫn đang trong xu hướng tâng). Sự khác biệt này có thể được diễn giải bằng hai cách: một số nhà đầu tư cảm thấy thị trường không thể tăng (ngay cả khi khối lượng giao dịch của chứng khoán tăng lớn hơn hoặc ít nhất đang bằng khối lượng giao dịch của chứng khoán giảm) và lực bán ra tại ngưởng kháng cự là rất lớn.

Nếu cho rằng thị trường giảm khi khối lượng giao dịch của chứng khoán tăng lớn hơn khối lượng giao dịch của chứng khoán giảm, vậy thì điều gì sẽ xảy ra nếu khối lượng giao dịch của chứng khoán tăng nhò hơn khối lượng giao dịch của chứng khoán giảm? Một lập luận ngược lại là CVI cho thấy hướng đi của dòng tiền thông minh. Vì thế, khi khối lượng giao dịch của chứng khoán tăng giá báo hiệu dòng tiền chảy vào thị trường, NYSE sẽ nhanh chóng xác nhận phân kỳ và tăng điểm”.

Bây giờ, khi đã có diều kiện dể kiềm chứng quá khứ, tôi nhận thấy trên thực tê CVI cho chúng ta biết được hướng đi của “dòng tiền thông minh”. Một thời gian ngắn sau khi những phân tích trên được công bố vào tháng 7/1984, thị trường đã xác nhận phân kỳ và tăng mạnh, như được thể hiện qua Hình 66.

chi-bao-cumulative-volume-index-la-gi-1

Cách tính CUMULATIVE VOLUME INDEX

CVI được tính bằng cách lấy khối lượng giao dịch của chứng khoán tăng giá trừ khối lượng giao dịch của chứng khoán giảm giá và sau đó tính tổng tích lũy.

CVỊ ngày trước + (Khối lượng giao dịch của chứng khoán tăng giá – Khối lượng giao dịch của chứng khoán giảm giá)

Bảng 19 minh họa cách tính CVI:
• Cột D bằng khối lượng giao dịch của chứng khoán tăng giá (Cột B) trừ khối lượng giao dịch của chứng khoán giám giá (Cột C).
• Cột E là tổng tích lũy của Cột D (tức là giá trị ngày hiện tại của Cột D cộng giá trị ngày trước đó của Cột E).

Cách tính CUMULATIVE VOLUME INDEX

Chu kỳ của CUMULATIVE VOLUME INDEX

Chu kỳ giúp chúng ta dự đoán chính xác các hiện tượng tự nhiên: mùa chim di trú, thủy triều, chuyền động cùa các hành tinh,… Phân tích chu kỳ cũng giúp chúng ta dự đoán sự thay đổi củaa thị trường tài chính, mặc dù không phải luôn luôn chính xác như trong tự nhiên.

Giá của nhiều hàng hóa có tính mùa vụ. Do nông nghiệp có ảnh hưởng đến hầu hêt hàng hóa nên tính mùa vụ này khá dễ hiểu. Tuy nhiên, bản chất củaa tính chu kỳ đối với một số chứng khoán lại khó giải thích hơn. Về mặt lý thuyết, tính chu kỳ cùa một số chứng khoán bị ành hưởng từ yếu tố tâm lý con người cho đến thời tiết và chuyển động của các hành tinh. Tôi nhận thây tâm lý con người là yếu tố có ảnh hưởng lớn.

Chúng ta biết rằng giá thể hiện sự đồng thuận trong kỳ vọng giữa người mua và người bán. Những kỳ vọng này luôn luôn thay đổi làm dịch chuyển đường cung cầu, và giá dao động từ ngưởng quá mua đến ngưỡng quá bán và ngược lại.

Sự dao động của giá là kết quả tất yếu của quá trình thay đổi kỳ vọng và dẫn đến các biến động mang tính chu kỳ.

Người ta đã phát triển ra nhiều chỉ báo và công cụ phân tích kỹ thuật nhằm tìm kiếm lợi nhuận dựa trên tính chu kỳ cùa giá. Ví dụ, các chỉ báo quá mua/quá bán (như Stochastic Oscillator và RSI – Relative Strength Index) được phát triển để giúp xác định những vùng đỉnh/đáy của một chu kỳ.
Chu kỳ của CUMULATIVE VOLUME INDEX

Cách sử dụng CUMULATIVE VOLUME INDEX

Có thể phải cần một cuốn sách mới có thể trình bày đầy đủ về chu kỳ và phân tích chu kỳ. Trong nhưng phần tiếp theo, tôi chủ yếu giải thích ngắn gọn về những chu kỳ phổ biến. Để bắt dầu cho việc nghiên cứu chu kỳ củng như phân tích kỹ thuật nói chung, chúng ta nên tìm đọc cuốn Technical Analysis Explained của Martin Pring.

Nếu chiêm nghiệm lại thì chúng ta có thể thấy tính chu kỳ xuât hiện ở bât kỳ sự vật, hiện tượng nào. Để có thể kiếm lời từ việc phân tích chu kỳ thì tính chính xác của chu kỳ phài được kiểm chứng trong quá khứ và nên được sử dụng kết hợp với các công cụ khác.

Chu kỳ tuần. Từ năm 1900 đến 1999, ngày tăng mạnh nhất trong tuần thường rơi vào thứ Sáu, trong khi giảm mạnh nhất là thứ Hai (28/10/1929 và 19/10/1987 là những ngày thứ Hai đen tối nổi tiếng). Xu hướng này gần như đảo ngược trong thập niên 1990, thứ Hai lại trờ thành ngày tăng mạnh nhất và thứ Sáu rơi xuống thứ 4. Xem Bàng 20.

Cách sử dụng CUMULATIVE VOLUME INDEX

Chu kỳ 28 ngày. Người ta phát hiện ra chu kỳ 28 ngày khi nghiên cứu về thị trường lúa mì trong thập niên 1930. Một số cho rằng điều này liên quan đến chu kỳ mặt trăng. Nhiều thị trường, bao gồm cả thị trường chứng khoán, dường như cùng có chu kỳ 28 ngày. (Chu kỳ 28 ngày là ngày lịch, tức là khoáng 20 ngày giao dịch).

Chu kỳ 10% tháng của giao dịch kỳ hạn. Mặc dù mỗi loại hàng hóa có chu kỳ riêng, nhưng thông qua Commodity Research Bureau (CRB) Index, người ta nhận thấy một chu kỳ hàng hóa thường dao động trong khoáng 9 den 12 tháng.

Hiện tưọng tháng 1. Có hiện tượng kỳ lạ là thị trường chứng khoán sưe có năm tăng điểm nếu tăng trong tháng 1 và ngược lại thị trường sẽ có năm giảm điểm nếu giảm trong tháng 1. Vì vậy có câu nói “Đầu xuôi, đuôi lọt”. Từ năm 1950 đến 1999, Hiện tượng tháng 1 đúng 42 trong số 50 lần, chiếm tý lệ 84%.

Hiệu ứng tháng 1. Sau khi làn sóng bán ra để tránh thuế và làm đẹp báo cáo tài chính cuối năm kết thúc, thị trường có chiều hướng tăng mạnh trong tháng 1. Khi càng nhiều người biết đến Hiệu ứng tháng 1 thì hiệu ứng này lại diễn ra sớm hơn, ngay từ cuối năm trước đó.

Chu kỳ 4 năm (Sóng Kitchin). Vào năm 1923, Joseph Kitchin tìm ra chu kỳ 40 tháng ở rất nhiều sản phẩm tài chính trên cả hai thị trường Anh và Mỹ trong giai đoạn 1890 – 1922. Sau đó, người ta nhận thấy chu kỳ 4 năm hiện diện rõ nét trên thị trường chứng khoán giai đoạn 1868 – 1945.

Mặc dù gọi là “chu kỳ 4 năm” nhưng độ dài trong thực tế dao động từ 40 đến 53 tháng. Điều này trùng hợp với chu kỳ kinh tế 4 năm.

Chu kỳ bầu cử tồng thống. Chu kỳ này xuất phát từ sự kiện bầu cử tổng thống diễn ra 4 năm một lần ở Mỹ. Theo đó, thị trường sẽ giảm sau kỳ bầu cử vì tồng thống mới có những chính sách điều chỉnh nền kinh tế. Vào giữa nhiệm kỳ tống thống, thị trường bắt đầu tăng do dự đoán tổng thống dương nhiệm sẽ thực thi các chính sách kinh tế đế thu hút phiếu bầu.

Chu kỳ 9,2 năm (Sóng Juglar). Năm 1860, Clcmant Juglar phát hiện chu kỳ 9 năm tồn tại trong nhiều lĩnh vực kinh tế. Những nghiên cửu sau đó cho thấy chu kỳ này rất mạnh trong giai đoạn 1840 – 1940.

Chu kỳ 54 năm (Sóng Kondratieff). Được đặt theo tên một nhà kinh tế học người Nga, Sóng Kondratieff là một chu kỳ kéo dài 54 năm hiện diện trong giá cả và các hoạt động kinh tế. Vi rất dài nên chu kỳ này chi mới xuất hiện 3 lần trên thị trường chứng khoán.

Sóng tăng được thể hiện qua việc giá cà leo thang, kinh tế tăng trưởng và thị trường chứng khoán khởi sắc. Sóng ngang thể hiện qua việc giá cả ổn định, nền kinh tế đạt công suất cực đại và thị trường chứng khoán tăng mạnh. Sóng giảm thể hiện qua việc giá cà sụt giám, thị trường chứng khoán lao dốc và thông thường là do chiến tranh.

Hình 68 minh họa Sóng Kondratieff và giá bán buôn ờ Mỹ (trích từ The Media General Financial Weekly, so ra ngày 3/6/1974).

chi-bao-cumulative-volume-index-la-gi-5

 

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here