Chaikin Oscillator là chỉ báo dao động được tính dựa trên trung bình động của Đường Tích lũy/Phân phối. Marc Chaikin phát triển chỉ báo này từ các nghiên cứu trước đó của Joseph Granville và Larry Williams.

Cách sử dụng chỉ báo CHAIKIN OSCILLATOR

Với sự cho phép trích dẫn lại của Marc Chaikin, dưới đây là nguyên văn giải thích của ông về chủ đề tích lũy/phân phối khối lượng giao dịch:

Phân tích kỹ thuật chỉ số thị trường cùng như cổ phiếu cụ thể đều phải phân tích khối lượng giao dịch để có thể thấy được động lực thực sự của thị trường. Phân tích khối lượng giao dịch giúp xác định cường độ mạnh yếu thực sự của thị trường, vốn được ẩn chứa bên dưới các biến động giá.

Thông thường, phân kỳ giữa khối lượng giao dịch và giá là tín hiệu đáng chú ý nhất cho thấy một sự đảo chiều quan trọng có thể sắp diễn ra. Mặc dù trước đó giới phân tích kỹ thuật thừa nhận rằng khối lượng giao dịch là rất quan trọng, nhưng việc phân tích khối lượng giao dịch chỉ đem lại hiệu quả rất thấp.

Hiệu quả này chì được cải thiện khi Joseph Granville và Larry Williams bất đầu ứng dụng một cách sáng tạo hơn việc phân tích tương quan giữa giá và khối lượng giao dịch vào cuối thập niên 1960.

Trong một thời gian dài, người ta cho rằng khối lượng giao dịch và giá thường biến động cùng chiều, nhưng khi giá và khối lượng giao dịch ngược chiều thì sự biến động giá nên được chú ý vì xu hướng có thể thay dối. Chỉ báo Granville OBV coi tổng khối lượng giao dịch trong ngày tăng là tích lũy và tổng khối lượng giao dịch trong ngày giảm là phân phối.

Nguyên tắc này là đúng lý thuyết nhưng thực tế thì không có ích lợi gì. Lý do là OBV cho quá nhiều tín hiệu tạo đỉnh/đáy quan trọng cả trong ngắn hạn lẫn trung hạn. Tuy nhiên, khi đường OBV phân kỳ với đỉnh/đáy của giá thì đây là tín hiệu có giá trị và thường báo hiệu giá đảo chiều.

Larry Williams đã kế thừa nguyên tắc của OBV và tiếp tục phát triên chỉ báo này. Đê xác định thị tnrờng/cô phiếu dang tích lũy hay phân phối vào một ngày cụ thề, Granville so sánh giá đóng cửa với giá đóng cửa ngày trước đó, trái lại Wil­liams so sánh giá đóng cửa với giá mở cửa của ngày hôm đó. Williams vè dường tích lũy bằng cách cộng dồn một tỷ lệ phần trăm tổng khối lượng giao dịch vào đường này nếu như giá đóng cửa cao hơn giá mở cửa, và trừ đi nếu như giá đóng cửa thấp hơn giá mở cửa. Trên phương diện phân tích phân kỳ khối lượng giao dịch, Đường Tích lũy/Phân phối cho tín hiệu chính xác hơn nhiều so với đường OBV cổ điển.

Sau đó, Williams mở rộng thêm phương pháp này trong việc phân tích DJ1A bằng cách tạo thêm một chỉ báo đo lường dao động của đường tích lủy/phân phối để cho tín hiệu mua bán tốt hơn. Tuy nhiên, vào những năm đầu của thập niên 1970, giá mở cửa của cố phiếu không còn được công bố trên các tờ báo hàng ngày và chỉ báo của Williams rất khó tính toán nếu không có sự hỗ trợ của nhân viên môi giới.

Vì thế, tôi tạo ra Chaikin Oscillator bằng cách sứ dụng giá trung bình trong ngày thay cho giá mở cửa trong công thức của Williams và phát triển thêm một bước nữa bằng việc áp dụng chỉ báo cho cả cổ phiếu và hàng hóa. Khi so sánh với biến động giá, Chaikin Oscillator là một công cụ cung cấp các tín hiệu mua bán với hiệu quả cao. Tôi tin rằng đây là một bước tiến quan trọng so với các nghiên cứu trước đây.

Chỉ số dao động của tôi dựa trên ba tiền đề. Tiền đề thứ nhất là nếu cổ phiếu hay chỉ số thị trường có giá đóng cửa nằm ở nửa trên của phạm vi dao động giá trong ngày ([giá cao nhất + giá thấp nhất] / 2), thì đây là ngày tích lũy (khối lượng giao dịch sẽ được cộng dồn vào ngày đó). Giá đóng cửa càng gần với giá cao nhất thì mức tích lũy càng lớn. Ngược lại, nếu giá đóng cửa nằm ở nửa dưới của phạm vi dao động giá trong ngày thì đó là một ngày phân phối. Giá đóng cửa càng gần với giá thấp nhất thì mức phân phối càng nhiều.

Tiền đê thứ hai là một đợt tăng giá bền vừng đi kèm với sự gia tăng khối lượng giao dịch và hiện tượng tích lũy khối lượng rất lớn. Vì khối lượng giao dịch được xem là động lực của các đợt tăng trường mạnh, nên giá tăng mà khối lượng giao dịch không gia tăng thì giá ít có cơ hội tiếp tục tăng trường.

Ngược lại, các đợt sụt giảm thường đi kèm với khối lượng giao dịch thấp và kết thúc với việc nhà đầu tư tồ chức bán tháo trong hoảng loạn. Vì thế, chúng ta thường xác định đáy thật sự của thị trường bằng cách nhìn vào các yếu tố như khối lượng giao dịch cải thiện và quá trình tích lũy tại các đáy mới thấp hơn với khối lượng giao dịch suy giảm.

Tiền đề thứ ba là với việc sử dụng Chaikin Oscillator, chúng ta có thể theo dõi được khối lượng giao dịch vào ra thị trường. So sánh sự dịch chuyển của khối lượng giao dịch với biên động giá có thể giúp chúng ta xác định được các mức đỉnh và đáy của thị trường cả trong ngắn hạn và trung hạn.

Do không có bất cứ kỹ thuật phân tích nào có thể phát huy hiệu quả trong mọi thời điểm, tôi đề xuất sử dụng kết hợp chỉ báo dao động với các chỉ báo khác để hạn chế sai sót. Tôi thích sứ dụng dãi dao động giá (price envelope) trên/dưới đường trung bình động 21 ngày và chỉ báo dao động quá mua/quá bán kết hợp với Chaikin Oscillator để có được tín hiệu trung và ngắn hạn hiệu quả nhất.

Tín hiệu quan trọng nhất của Chaikin Oscillator xuất hiện khi giá đạt đỉnh hoặc tạo đáy mới trong một sóng (đặc biệt có ý nghía tại các mức quá mua hay quá bán) và khi chỉ báo này không the tạo được đỉnh mới cao hơn/đáy mới thấp hơn so với trước đó thì xuất hiện tín hiệu đào chiều.

  1. Tín hiệu xuất hiện cùng chiều với xu hướng giá trung hạn sẽ đáng tin cậy hơn.
  2. Chỉ báo tạo đỉnh hoặc đáy không hàm ý rằng giá sè tiếp tục biến động theo xu hướng hiện tại. Theo tôi, sự xác nhận đình/đáy này không có nhiều giá trị.

Một cách sử dụng khác của Chaikin Oscillator là giúp xác định tín hiệu mua/ bán thông qua sự đào chiều của chỉ báo này, nhưng chì với điêu kiện giá vẫn đang trong xu hướng hiện tại. Ví dụ, nếu chúng ta nói rằng cổ phiếu có giá cao hon trung bình động 90 ngày đang trong xu hướng tăng, thì tín hiệu mua xuất hiện chì khi giá vẫn còn nam trcn trung bình động 90 ngày và Chaikin Oscillator đão chiêu đi lên từ dưới mức 0.

“Tín hiệu bán xuất hiện khi Chaikin Oscillator có giá trị lớn hơn 0 đào chiều đi xuống và giá vẫn nằm bôn dưới trung bình động 90 ngày”.

Ví dụ chỉ báo CHAIKIN OSCILLATOR

Hình 61 minh họa diễn biến giá và Chaikin Oscillator của cổ phiếu Eastman Kodak. Phân kỳ giá xuống (giá tạo đỉnh mới trong khi Chaikin Oscillator giảm) xuất hiện tại A và B. Những phân kỳ này báo hiệu giá sụt giảm sau đó.

Ví dụ chỉ báo CHAIKIN OSCILLATOR

Chỉ báo Chaikin Oscillator được tính bằng cách lấy EMA 3 ngày của Đường Tích lũy/Phân phối trừ cho EMA 10 ngày của Đường Tích lũy/Phân phối.

Cách dùng chỉ báo Chaikin Oscillator

Cách dùng chỉ báo Chaikin Oscillator

  • Cột F là Đường Tích lũy/Phân phối.
  • Cột G là trung bình động hàm số mũ 3 ngày của Cột F. Tham khảo cách tính chi tiết EMA. Nói ngắn gọn, dòng dầu tiên của Cột G chính là dòng đầu tiên ở Cột F. Những dòng tiếp theo của Cột G được tính bằng cách lấy giá trị của Cột F nhân với 0,5, rồi lấy giá trị trước đó của Cột G nhân với 0,5 và cuối cùng cộng hai giá trị với nhau. (Giá trị 0,5 và 0,5 là tỷ lệ phần trăm hàm số mũ của trung bình động 3 ngày. EMA 3 ngày này chi có giá trị từ ngày thứ ba trở đi (18/05/93).
  • Cột H là EMA 10 ngày của Cột F. EMA 10 ngày này được tính bằng cách lấy Cột F nhân với 0,1818…, rồi lấy giá trị trước đó của Cột 11 nhân với 0,8182… và cuối cùng cộng hai giá trị này với nhau. EMA 10 ngày này chỉ có giá trị từ ngày thứ mười trở đi (27/05/93).
  • Cột 1 bằng Cột G trừ Cột H. Bước này không cằn làm cho đến ngày thứ mười (27/05/93) khi cả hai trung bình động đều có giá trị.

Tham khảo: vietstock

Tìm hiểu thêm

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here