Home Kiến Thức Kinh Tế Học Book Value Per Share (BVPS) là gì?

Book Value Per Share (BVPS) là gì?

0

Giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu (BVPS) là gì?

Giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu (BVPS) là tỷ lệ vốn chủ sở hữu dành cho cổ đông phổ thông chia cho số lượng cổ phiếu đang lưu hành. Con số này đại diện cho giá trị tối thiểu của vốn chủ sở hữu của một công ty và đo lường giá trị sổ sách của một công ty trên cơ sở mỗi cổ phiếu.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu (BVPS) lấy tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu phổ thông của một công ty chia cho số lượng cổ phiếu đang lưu hành.
  • Giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu trên mỗi cổ phiếu chỉ ra một cách hiệu quả giá trị tài sản ròng của một công ty (tổng tài sản – tổng nợ phải trả) trên cơ sở mỗi cổ phiếu.
  • Khi một cổ phiếu bị định giá thấp, nó sẽ có giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu cao hơn so với giá cổ phiếu hiện tại trên thị trường.
  • BVPS được sử dụng chủ yếu bởi các nhà đầu tư chứng khoán để đánh giá giá cổ phiếu của một công ty.
1:18

Giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu trên mỗi cổ phiếu (BVPS)

Hiểu giá trị sách trên mỗi cổ phiếu (BVPS)

Số liệu giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu (BVPS) có thể được các nhà đầu tư sử dụng để đánh giá liệu giá cổ phiếu có bị định giá thấp hay không bằng cách so sánh nó với giá trị thị trường trên mỗi cổ phiếu của công ty. Nếu BVPS của một công ty cao hơn giá trị thị trường trên mỗi cổ phiếu — giá cổ phiếu hiện tại — thì cổ phiếu đó được coi là định giá thấp. Nếu BVPS của công ty tăng, cổ phiếu sẽ được coi là có giá trị hơn và giá cổ phiếu sẽ tăng.

Về lý thuyết, BVPS là số tiền mà các cổ đông sẽ nhận được trong trường hợp công ty bị thanh lý, tất cả tài sản hữu hình được bán và tất cả các khoản nợ phải trả đã được thanh toán. Tuy nhiên, vì tài sản sẽ được bán theo giá thị trường và giá trị ghi sổ sử dụng nguyên giá của tài sản, nên giá trị thị trường được coi là giá sàn tốt hơn giá trị sổ sách của một công ty.

Nếu giá cổ phiếu của một công ty giảm xuống dưới BVPS của nó, một người đánh giá cao công ty có thể kiếm lợi nhuận phi rủi ro bằng cách mua lại công ty và thanh lý nó. Nếu giá trị sổ sách là âm, trong đó nợ phải trả của một công ty vượt quá tài sản của nó, điều này được gọi là mất khả năng thanh toán bảng cân đối kế toán.

Công thức cho BVPS là:

B V P S = Tổng vốn chủ sở hữu Vốn cổ phần ưu đãi Tổng số cổ phiếu đang lưu hành BVPS = frac { text {Tổng vốn chủ sở hữu} – text {Vốn chủ sở hữu ưu tiên}} { text {Tổng số cổ phiếu đang lưu hành}}

Vốn chủ sở hữu của cổ đông là quyền đòi lại của chủ sở hữu trong công ty sau khi các khoản nợ đã được thanh toán. Nó bằng tổng tài sản của một công ty trừ đi tổng nợ phải trả, là giá trị tài sản ròng hoặc giá trị sổ sách của toàn bộ công ty.

Vì cổ đông ưu đãi có yêu cầu về tài sản và thu nhập cao hơn cổ đông phổ thông, nên cổ phần ưu đãi được trừ vào vốn chủ sở hữu của cổ đông để lấy vốn chủ sở hữu cho cổ đông phổ thông.

Ví dụ về giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu

Ví dụ, giả sử rằng số dư vốn cổ phần phổ thông của XYZ Manufacturing là 10 triệu đô la và 1 triệu cổ phiếu phổ thông đang lưu hành. Điều này có nghĩa là BVPS là (10 triệu đô la / 1 triệu cổ phiếu), hoặc 10 đô la cho mỗi cổ phiếu. Nếu XYZ có thể tạo ra lợi nhuận cao hơn và sử dụng lợi nhuận đó để mua thêm tài sản hoặc giảm nợ phải trả, thì vốn chủ sở hữu chung của công ty sẽ tăng lên.

Ví dụ, nếu công ty tạo ra 500.000 đô la thu nhập và sử dụng 200.000 đô la lợi nhuận để mua tài sản, thì vốn cổ phần chung sẽ tăng cùng với BVPS. Nếu XYZ sử dụng 300.000 đô la thu nhập của mình để giảm nợ phải trả, thì vốn chủ sở hữu chung cũng tăng lên.

Một cách khác để tăng BVPS là mua lại cổ phiếu phổ thông từ các cổ đông. Nhiều công ty sử dụng thu nhập để mua lại cổ phần. Sử dụng ví dụ XYZ, giả sử rằng công ty mua lại 200.000 cổ phiếu và 800.000 cổ phiếu vẫn còn lưu hành. Nếu vốn cổ phần phổ thông là 10 triệu đô la, thì BVPS tăng lên 12,50 đô la cho mỗi cổ phiếu. Bên cạnh việc mua lại cổ phiếu, một công ty cũng có thể tăng BVPS bằng cách thực hiện các bước để tăng số dư tài sản và giảm nợ phải trả.

Giá trị thị trường trên mỗi cổ phiếu so với Giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu

Trong khi BVPS được tính toán bằng cách sử dụng chi phí lịch sử, giá trị thị trường trên mỗi cổ phiếu là một số liệu hướng tới tương lai có tính đến khả năng thu nhập trong tương lai của công ty. Khả năng sinh lời tiềm năng hoặc tốc độ tăng trưởng dự kiến của một công ty tăng lên sẽ làm tăng giá trị thị trường trên mỗi cổ phiếu.

Ví dụ, một chiến dịch tiếp thị sẽ giảm BVPS bằng cách tăng chi phí. Tuy nhiên, nếu điều này xây dựng giá trị thương hiệu và công ty có thể tính giá cao cho các sản phẩm của mình, thì giá cổ phiếu của công ty có thể tăng cao hơn nhiều so với BVPS.

Giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu (BVPS) cho bạn biết điều gì?

Về lý thuyết, BVPS là số tiền mà các cổ đông sẽ nhận được trong trường hợp công ty bị thanh lý, tất cả tài sản hữu hình được bán và tất cả các khoản nợ phải trả đã được thanh toán. Tuy nhiên, giá trị của nó nằm ở chỗ các nhà đầu tư sử dụng nó để đánh giá xem giá cổ phiếu có bị định giá thấp hay không bằng cách so sánh nó với giá trị thị trường của công ty trên mỗi cổ phiếu. Nếu BVPS của một công ty cao hơn giá trị thị trường trên mỗi cổ phiếu, tức là giá cổ phiếu hiện tại của nó, thì cổ phiếu đó được coi là định giá thấp.

Làm thế nào các công ty có thể tăng BVPS?

Một công ty có thể sử dụng một phần thu nhập của mình để mua các tài sản có thể làm tăng vốn chủ sở hữu chung cùng với BVPS. Hoặc, nó có thể sử dụng thu nhập của mình để giảm nợ phải trả, điều này cũng sẽ dẫn đến tăng vốn chủ sở hữu chung và BVPS. Một cách khác để tăng BVPS là mua lại cổ phiếu phổ thông từ các cổ đông và nhiều công ty sử dụng thu nhập để mua lại cổ phiếu.

BVPS khác với giá trị thị trường trên mỗi cổ phiếu như thế nào?

Trong khi BVPS được tính toán bằng cách sử dụng chi phí lịch sử, giá trị thị trường trên mỗi cổ phiếu là một số liệu hướng tới tương lai có tính đến khả năng thu nhập trong tương lai của công ty. Khả năng sinh lời tiềm năng hoặc tốc độ tăng trưởng dự kiến của một công ty tăng lên sẽ làm tăng giá trị thị trường trên mỗi cổ phiếu. Về cơ bản, giá thị trường trên mỗi cổ phiếu là giá hiện tại của một cổ phiếu trong cổ phiếu được giao dịch công khai. Không giống như BVPS, giá thị trường trên mỗi cổ phiếu không cố định vì nó dao động chỉ dựa trên lực lượng cung và cầu thị trường.

Nguồn tham khảo: investmentopedia