Home Kiến Thức Kinh Tế Học Bond Equivalent Yield (BEY) là gì?

Bond Equivalent Yield (BEY) là gì?

0

Lợi tức Tương đương Trái phiếu là gì?

Về mặt tài chính, lợi suất tương đương trái phiếu (BEY) là một số liệu cho phép các nhà đầu tư tính toán lợi suất phần trăm hàng năm cho các chứng khoán đến hạn cố định, ngay cả khi chúng là những khoản đóng góp ngắn hạn được chiết khấu chỉ thanh toán hàng tháng, hàng quý hoặc bán hàng năm.

Tuy nhiên, bằng cách có số liệu BEY trong tầm tay, nhà đầu tư có thể so sánh hiệu suất của các khoản đầu tư này với hiệu suất của các chứng khoán thu nhập cố định truyền thống kéo dài một năm trở lên và tạo ra lợi tức hàng năm. Điều này cho phép các nhà đầu tư đưa ra những lựa chọn sáng suốt hơn khi xây dựng danh mục đầu tư thu nhập cố định tổng thể của họ.

1:06

Lợi tức tương đương trái phiếu (BEY)

Hiểu lợi tức tương đương trái phiếu

Để thực sự hiểu công thức lợi suất tương đương trái phiếu hoạt động như thế nào, điều quan trọng là phải biết những điều cơ bản về trái phiếu nói chung và nắm được trái phiếu khác với cổ phiếu như thế nào.

Các công ty muốn huy động vốn có thể phát hành cổ phiếu (cổ phiếu) hoặc trái phiếu (thu nhập cố định). Cổ phiếu được phân phối cho các nhà đầu tư dưới dạng cổ phiếu phổ thông có khả năng thu được lợi nhuận cao hơn trái phiếu, nhưng chúng cũng mang rủi ro lớn hơn. Cụ thể, nếu một công ty nộp đơn xin phá sản và sau đó thanh lý tài sản của mình, các trái chủ của công ty đó là người đầu tiên phải nhận bất kỳ khoản tiền mặt nào. Chỉ khi nào còn tài sản thì cổ đông mới thấy tiền.

Tóm tắt ý kiến chính

  • Chứng khoán thu nhập cố định có nhiều dạng khác nhau.
  • Trái phiếu chiết khấu (zero-coupon) có thời hạn ngắn hơn so với chứng khoán thu nhập cố định truyền thống, điều này khiến cho việc tính toán lợi tức hàng năm của chúng không thể xảy ra.
  • Công thức lợi suất tương đương trái phiếu (BEY) có thể giúp ước tính số tiền mà một trái phiếu chiết khấu sẽ trả hàng năm, cho phép các nhà đầu tư so sánh lợi nhuận của họ với lợi tức của trái phiếu truyền thống.

Nhưng ngay cả khi một công ty vẫn có khả năng thanh toán, thì thu nhập của nó vẫn có thể không đạt được kỳ vọng. Điều này có thể làm giảm giá cổ phiếu và gây thiệt hại cho người sở hữu cổ phiếu. Nhưng cũng chính công ty đó có nghĩa vụ pháp lý phải trả nợ cho các trái chủ, bất kể lợi nhuận đó có thể có hay không.

Không phải tất cả các trái phiếu đều giống nhau. Hầu hết trái phiếu trả cho nhà đầu tư tiền lãi hàng năm hoặc nửa năm. Nhưng một số trái phiếu, được gọi là trái phiếu không phiếu giảm giá, hoàn toàn không trả lãi. Thay vào đó, chúng được phát hành với mức chiết khấu sâu đến ngang giá và các nhà đầu tư thu lợi nhuận khi trái phiếu đáo hạn. Để so sánh lợi tức của chứng khoán thu nhập cố định chiết khấu với lợi tức của trái phiếu truyền thống, các nhà phân tích dựa vào công thức lợi tức tương đương của trái phiếu.

Xem xét kỹ hơn công thức lợi tức tương đương trái phiếu

Công thức lợi tức tương đương trái phiếu được tính bằng cách lấy phần chênh lệch giữa mệnh giá trái phiếu và giá mua trái phiếu chia cho giá trái phiếu. Câu trả lời đó sau đó được nhân với 365 chia cho “d”, đại diện cho số ngày còn lại cho đến khi trái phiếu đáo hạn. Nói cách khác, phần đầu tiên của công thức là công thức hoàn vốn tiêu chuẩn được sử dụng để tính lợi suất trái phiếu truyền thống, trong khi phần thứ hai của công thức tính hàng năm cho phần đầu tiên, để xác định con số tương đương cho trái phiếu chiết khấu.

Mặc dù việc tính toán lợi suất tương đương trái phiếu có thể phức tạp, nhưng hầu hết các bảng tính hiện đại đều có các máy tính BEY tích hợp sẵn có thể đơn giản hóa quy trình.

Bạn vẫn còn phân vân? Hãy xem xét ví dụ sau.

Giả sử một nhà đầu tư mua một trái phiếu không phiếu giảm giá 1.000 đô la với giá 900 đô la và dự kiến sẽ được thanh toán bằng mệnh giá trong sáu tháng. Trong trường hợp này, nhà đầu tư sẽ bỏ túi 100 đô la. Để xác định BEY, chúng tôi lấy mệnh giá của trái phiếu (mệnh giá) và trừ đi giá thực trả cho trái phiếu:

  • 1.000 đô la – 900 đô la = 100 đô la

Sau đó, chúng tôi chia 100 đô la cho 900 đô la để thu được lợi tức đầu tư, là 11%. Phần thứ hai của công thức hàng năm hóa 11% bằng cách nhân nó với 365 chia cho số ngày cho đến khi trái phiếu đáo hạn, là một nửa của 365. Do đó, lợi suất tương đương của trái phiếu là 11% nhân với hai, tương đương với 22%.

Nguồn tham khảo: investmentopedia

Previous article Bond Discount là gì?
Next article Bond ETF là gì?
Mình là một người thích làm việc trong lĩnh vực tài chính, những bài viết của mình xoay quanh trong thị trường chứng khoán, crypto, Forex (ngoại hối) hy vọng những kiến thức của mình sẽ giúp cho bạn một phần nào đó.